Monday, April 1, 2013

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TANG THƯƠNG CỦA MIỀN NAM VIỆT NAM 38 NĂM TRƯỚC


38 năm qua, những ngày nghiệt ngã,
tang thương tại vùng I và II
 
 
Phi Loan xin được mời các anh chị đọc để nhớ về thăng trầm và khổ đau cuả dân tộc mình trên chặng đường di tản trong biến động 1975 trên con đường tỉnh lộ 7B
(Viết cho những khốn khổ, những điêu linh của đất nước tôi và dân tộc tôi)
Tôi gấp quyển sách đang đọc dở dang, đưa tay chùi vội những giọt nước mắt vừa lăn dài xuống má. Quyển sách đó có tựa đề thật đơn giản “Những người tù cuối cùng” của tác giả PGĐ và chính anh cũng là một trong hai mươi người tù cuối cùng được thả ra sau hơn mười bảy năm bị giam cầm, tù đày trong lao tù Cộng sản. Anh và các bạn đã là nhân chứng sống của lịch sử. Những giòng chữ đó có hấp lực thật lạ lùng, càng đọc càng như bị kéo ngược về dĩ vãng - một dĩ vãng đau buồn và uất hận mà tôi đã cố chôn vùi thật sâu trong tận cùng của ký ức... 
Sau biến cố tang thương của tháng 3 năm 1975 khi Ban Mê Thuột bị thất thủ - là kéo theo những đổ vỡ-những mất mát-những chia lìa-những đọa đày-những uất hận của tập thể Quân Dân Cán Chính VIỆT NAM CỘNG HÒA của một quân đội hùng mạnh của những người con đã sống chết cho lý tưởng Tự Do và sự phồn vinh của dân tộc. Ba mươi mấy năm qua biết bao thăng trầm - nhưng mỗi lần nhớ về, lại là những lần nhói buốt, nó như vết thương lòng không thể nào lành. Tôi thầm cám ơn tác giả của quyển sách đó đã là động lực để tôi ngồi xuống ghi lại những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến của buổi chiều hôm ấy... 
Trong cái lũ lượt của đoàn người di tản từ PLEIKU và KONTUM qua con đường liên tỉnh lộ 7B. Con đường này bỗng nhiên ồn ào, náo nhiệt trong hỗn loạn, rồi tiếng gọi nhau vang dội cả một góc rừng. Tiếng khóc than, tiếng xe, tiếng súng nổ rền vang, hệt như đàn ong vỡ tổ, người chạy ngược kẻ chạy xuôi, tìm kiếm người thân bị thất lạc, đồ đạc vất bừa bãi, những chiếc xe hư bỏ lại trên đường ngỗn ngang. Tôi và HÙNG người em trai nhỏ, cũng tất bật trong đoàn người gian truân đó, bây giờ chỉ còn hai chị em, ba mẹ và các em còn kẹt lại Ban Mê Thuột, mấy bữa nay tôi đã chạy đôn chạy đáo để dò la tin tức gia đình, nhưng biết hỏi ai bây giờ, bởi chẳng ai biết rõ điều gì đã xảy ra. 
Trong tâm trạng rối bời đó, tôi chỉ còn nhớ một điều là khi đến lớp, điều làm tôi ngạc nhiên là sĩ số các em học sinh đến trường chỉ còn một nữa, tôi đang tìm câu trả lời thì có một em học sinh đến gần bên tôi nhỏ nhẹ lên tiếng hỏi:
- Thưa cô, ba mẹ em muốn biết là cô có muốn chạy loạn cùng xe với gia đinh em không? 
Chạy loạn!!! Tôi nghe tiếng chạy loạn mà tim nhói đau, có nghĩa là tôi phãi rời bỏ nơi chốn này, xa trường, xa học trò thân yêu của tôi, mà đi đâu kia chứ? Nhìn đứa học trò ngoan mà tôi thương nhất lớp chưa biết phải trả lời ra sao? 
Tôi mới ra trường được vài tháng, nhận nhiệm sở ở đây, ngôi trường nằm trên ngọn đồi thoai thoải trông thật dễ thương, tuy mới về nhưng tôi được học sinh, phụ huynh học sinh và các đồng nghiệp thương mến chắc tại cái nhỏ nhoi, yếu đuối của tôi trong làn sương mù và cái se lạnh của PLEIKU chăng? Tôi nghĩ thế. 
- Thưa cô, cô quyết định như thế nào ạ?
Tiếng nhỏ nhẹ của người học trò lại cất lên, cắt ngang giòng suy tư của tôi, tôi lặng lẽ gật đầu. Thế là mọi chuyện cứ tuần tự đi qua như đã đuợc sắp xếp tự bao giờ để giờ này đây tôi cũng có mặt trong đoàn người di tản. Khi chiếc xe bị kẹt cứng, không thể nhích thêm một chút xíu nào, tôi nhảy xuống xe để được thoải mái một lát và đi lần về phía trước, bỗng nghe một giọng ru con lanh lảnh vừa ru, vừa khóc nghe thật não lòng!!... 
- “Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, con đi trường học, mẹ đi trường đời”. 
Tôi lần theo tiếng ru hời đó, đến dưới gốc cây to thấy một người đàn bà, đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, ôm chặt đứa con trong lòng mà ru, tôi tò mò bước đến gần để hỏi thăm, chỉ vừa kịp nhìn thấy đứa bé có nước da xám sậm, tôi như muốn ngã qụy xuống, không biết đứa bé đã chết tự bao giờ, vậy mà người mẹ vẫn cất tiếng ru nảo ruột để ôm ấp, để vỗ về con mình. Tôi kêu thất thanh 
- Xin giúp chị ấy, con chị đã chết rồi!
Thấy tôi la lớn tiếng, có mấy người đang ở gần đấy bèn chạy lại, nhưng không thể nào lấy được đứa bé ra khỏi vòng tay của chị, chị cứ ghì chặt đứa con của chị vào lòng, đứa bé như một bảo vật, một gia tài cuối cùng của chị, chị vừa khóc vừa ru “Con đi trường học, mẹ đi trường đời". 
“Chị đã thi đậu trường đời rồi đó chị”, tôi thầm nhủ như thế, định mệnh oan nghiệt đã cướp đi người con yêu dấu của chị, chị cứ thế mà than van, “Con ơi! con bú đi con...” Tôi đưa tay bịt tai lại để không còn nghe giọng ru hời thống thiết của một người mẹ vừa mất đi đứa con nhỏ thân yêu. 
Không thể chịu đựng thêm nữa, tôi vội quỳ xuống truớc khoảng đất trống gần đó mà lạy mười phương tám hướng vừa khóc, vừa van vái. Xin tha cho dân tộc con, cho đất nước con... Tôi úp mặt vào đôi bàn tay nhỏ bé kêu lên "Chúa ơi!"...
Bỗng một bàn tay, đặt lên vai tôi 
- Chị ơi, chạy mau đi, không kip nữa đâu.
Tiếng người em trai hối thúc. Tôi vội vàng đứng lên như người vừa hoàn hồn, tôi chạy như bay để lại sau lưng người đàn bà đang ôm ghì xác đứa con đã chết với tiếng ru hời bi thảm...
Ba mươi tám năm trôi qua, chẳng biết người đàn bà với tiếng hát ru hời ấy về đâu???  
Phi Loan Hoàng thị Cỏ May
 
 
- 2 giờ 20 sáng ngày thứ hai-10 tháng 3 năm 1975, quân Cộng sản bắc việt bắt đầu nã pháo đại bác 130 ly, hỏa tiển 122 ly vào các cứ điểm quân sự và Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.
- 4 giờ chiều ngày thứ hai-10 tháng 3 năm 1975, quân Cộng sản bắc việt chiếm thị xã Ban Mê Thuột, ngoại trừ khu vực Bộ tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh còn được trấn giữ...
- 6 giờ chiều ngày 10 tháng 3 năm 1975, thành phố bây giờ như một bãi tha ma, chứa đầy tử khí. Những đống tro tàn của nhiều khu phố bị cháy, bụi khói và gạch vụn gợi cho người ta cái cảm xúc của một chiến trường tàn cuộc lạnh lẽo rợn người”. (Nguyễn Định, BMTNĐCC.) Theo nguồn Quốc Gia Hành Chánh.
 
 
 
 
 
 
TẠI QUẢNG TRỊ
 
 
 
 
 
 
TẠI HUẾ
 
Ngày 21 tháng 3 năm 1975 nguyên gia đình bị Cộng sản bắn chết ở quốc lộ 1,
gần đèo Hải Vân đang trên đường di tản.
 
Người phụ nữ này 1 mình dẫn mấy đứa con chạy nạn từ Huế đang
ngồi trên đèo Hải Vân với nỗi lo âu.
TẠI CỬA THUẬN AN
Chiếc xà lan Quân vận Vùng 1, di tản Quân & Dân
chuyến cuối cùng  từ Cửa Thuận An. 
TẠI ĐÀ NẴNG
Ngày 27-3-1975 Chuyến máy bay dân sự đầu tiên của Mỹ mướn đáp xuống phi trường Đà Nẵng để đưa người di tản, nhưng mỗi khi máy bay đáp xuống những hỗn loạn diễn ra dữ dội. Nên các chuyến bay dân sự đó phải đình chỉ.
Sau đó thay đổi bằng 4 máy bay C-130 nhưng hỗn loạn vẫn liên tục nên 4 chiếc này chỉ cất cánh duy nhất được một lần vào ngày 29-3-1975
Ngày 27 tháng 3 năm 1975 tại bến tàu Đà Nẵng.
Cảng Đà Nẵng, trong giờ phút hấp hối.
Người dân chạy trốn Cộng sản được câu lên tàu SS Pioneer Contender.
Một số người dân di tản đả được ngồi yên dưới hầm Tàu 
Bến tàu Đà Nẵng rất hỗn loạn, nên các chiếc tàu thả neo ngoài xa,
dân dùng thuyền bè từ bờ ra tàu tại Đà Nẵng
Mỗi chiếc tàu chở được chừng 10 ngàn người thì nhổ neo về Cam Ranh.
Chiều ngày 28-3-1975, tại bãi biển Mỹ Khê, Đà Nẵng. Những cảnh hỗn loạn xảy ra. Cả chục chiếc thiết vận xa M-113 làm đầu cầu nối ra biển để lên tàu.
Sau đó có nhiều chiếc bị chìm xuống biển và một số binh sĩ biết lội thì còn sống sót, số người không biết lội đã bị chìm dần xuống đáy biển Mỹ Khê.
Tối 28-3-75 bọn Cộng sản pháo kích vô căn cứ
Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, lửa cháy rực một góc trời.
 
Chiến Hạm HQ-802 nhổ neo xuôi Nam lúc 11 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.
Và những số người dân khác. cố gắng dùng đủ loại phương tiện để
chạy ra khỏi Đà Nẵng. Phải bằng mọi cách để trốn thoát khỏi Cộng sản ngày 28 tháng 3 năm 1975.
Ngày 30 tháng 3 năm 1975 Dân tị nạn từ Huế, Đà Nẵng và các thành phố khác
chen chúc chạy trốn Cộng sản trên quốc lộ 1 hướng vô Nam.
TẠI TUY HÒA, PHÚ YÊN
Ngày 16 tháng 3 năm 1975 Ban Mê Thuột, Pleiku, KonTum, Phú Bổn nói chung là tất cả các tỉnh trên Cao Nguyên đang vào giờ hấp hối, cho nên những con đường để thoát chạy như là, 7B, 14, 19, 20, 21.
Nhưng tổn thất nhất là con đường 7B có thể nói đó là
CON ĐƯỜNG MÁU của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa & Dân chúng.
Những người dân rút chạy khỏi cao nguyên ngày 19-3-1975 tại Phú Bổn, Kontum.
Một quân nhân VNCH trên trực thăng đã cứu bé trong cuộc di tản hỗn loạn
Đoàn xe nối đuôi qua cầu phao trên Sông Ba ngày 18-3-1975. Phú Yên.
Ngày 22-3-1975 một phụ nữ được trực thăng di tản ra khỏi Tuy Hòa,
ôm chặt con vào lòng với nỗi đau khổ vì người chồng còn kẹt ở lại.
 
THÁNG BA TRÊN TỈNH LỘ 7B.
 
( Cảm tác theo hình ảnh và bài viết của Phi Loan- Hoàng Thị Cỏ May).
Tháng Ba trên tỉnh lộ 7B,
Đoàn người chạy loạn dài lê thê,
 
Người mẹ tất tả đôi quang gánh,
Gia tài là những đứa con kia.
Thằng anh túm áo mẹ bước theo,
Thằng em ngồi trong thúng thơ ngây,
Chắc nó tưởng trò chơi chốc lát,
Mẹ gánh về nhà như mọi ngày.
Theo dòng người mẹ nó bước mau,
 
Cha nó còn cố thủ dãi dầu?
Người lính tan hàng không đơn vị,
Những ngày cuối cùng anh ở đâu ?
 
Có người di tản từ Pleiku,
Phố núi cao, phố núi sương mù,
Hoa Dã Quỳ vẫn vàng đâu đó,
Nước vẫn trong xanh nước Biển Hồ.
 
Có người di tản từ Kontum,
Đạn bom xé nát rừng cao nguyên,
Người dân ngơ ngác rời thành phố,
Nỗi buồn cao như đỉnh Ngọc Linh.
 
Người ta gọi nhau trong hãi hùng,
Kẻ ngược người xuôi, đường mịt mùng ,
Về Tuy Hòa hay đi Phú Bổn ?
Có nơi nào bình yên hơn không?
 
Tiếng khóc, tiếng súng, tiếng còi xe,
Rợn người như từ ác mộng về,
Bên đường đồ đạc nằm vương vãi,
Người bên người mà vẫn phân ly.
 
Bao quân, dân, cán, chính miền Nam ,
Trên tỉnh lộ này đã hi sinh,
Quân đoàn 2 rút quân, triệt thoái,
16 tháng Ba năm 75.
 
Đường liên tỉnh lộ 7B ơi,
Bao tháng Ba qua, bao ngậm ngùi,
Bốn phương tám hướng đời dâu bể,
Ai có thể quên kỷ niệm này.
 
 Nguyễn Thị Thanh Dương.
( March 20, 2013 )
 
 
 


 

 

Friday, March 29, 2013

NHỮNG TRÁI TIM YÊU VÀ NHỮNG NỤ CƯỜI TRÊN MẢNH ĐẤT KHÔ CẰN TRI THỨC

“Nếu tôi có quyền thế tôi sẽ đem sách mà gieo rắc khắp mặt địa cầu như người ta gieo lúa trong luống cày vậy”  Mann Horace

Hà Nội. Mưa. Trời đang mưa... 

Tôi không biết tự bao giờ, mưa gắn liền với mỗi chuyến đưa sách của anh chị chúng tôi đến với các em ở những miền xa xăm. Mỗi lần như thế chúng tôi lại đùa nhau rằng đó là “mưa hồng ân”. Thấy chúng tôi khổ sở trong mưa, những chuyến đi xa trong 1 ngày phải di chuyển bằng xe máy để chủ động thời gian và phương tiện thì có một người nói rằng “chúng nó thật khác người, sướng không biết đường sướng mà cứ thích vác cái ách sau lưng” hoặc “đúng là đồ ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”... Nhưng hơn ai hết chúng tôi hiểu được rằng: Cho đi thì sẽ có nhận lại. Cho đi, chúng tôi đã cho đi thời gian, tiền bạc, sức khỏe, nhưng ngược lại điều mà chúng tôi nhận lại đó là: niềm vui, niềm hân hoan của các em khi nhận được sách, niềm hạnh phúc của chính chúng tôi và sâu thẳm hơn nữa đó là người dân sẽ được nâng cao tri thức, yêu sách hơn, ham học hỏi hơn và mắt sẽ không bị “mù lòa” nữa. 

Tôi nhớ những chuyến đi đầu tiên, để tiện cho công việc cũng như lịch sinh hoạt của nhà thờ, chúng tôi phải di chuyển bằng xe máy từ sáng sớm tinh mơ. Bước ra đường trời tối thui, mưa lạnh. Nhưng bóng tối và ướt lạnh không hề làm chúng tôi trùn bước. chân của chúng tôi, thay vào đó nó còn làm nghị lực của chúng tôi lớn mạnh hơn nữa. Trừ khi... 

Một số lần chưa ra khỏi HN, đã bị cơ động tóm vì lý do rất chi là ưng “xe chạy quá tốc độ, và gọi lại để kiểm tra giấy tờ”. Thật nực cười! Nhưng vì để tiếp tục hành trình chúng tôi phải... nín cười, cống nạp vào “quỹ nhà nước” 450000. Chưa dừng lại ở đó! Khi vừa tới Hà Nam, xe chúng tôi bị nổ lốp. Mặc dù mưa, lạnh, đói, nghèo thêm chút nữa vì phải cống nạp, lại phải đẩy xe máy để tìm chỗ sửa, thế nhưng trên môi mỗi người anh em chúng tôi đều ngự trị một nụ cười, một trái tim ấm, một tấm lòng yêu thương... Ngay trong chuyến đi vừa qua, chúng tôi đã vượt qua những khó khăn về thời tiết, vượt qua gần 400 cây số với một trái tim yêu để đưa tri thức tới mảnh đất Yên Thành, Nghệ An – mảnh đất khô cằn tri thức. 

Chúng tôi sẽ luôn sát cánh bên nhau và tiến về phía trước 
Những trái tim yêu thương
 
Không có khó khăn nào có thể cản đường chúng tôi... 

Không chỉ gặp khó khăn về không gian, “người đời” mà chúng tôi còn gặp khó khăn từ chính phía gia đình của mình. Hầu hết những người thân trong gia đình chúng tôi đều cấm không cho đi đưa sách. Thế nhưng, vì một tình yêu, vì một lý tưởng chúng tôi đã bất chấp tất cả để được đi, kể cả nói dối. Chúng tôi biết rằng nói dối bố mẹ người thân ngang với tội bất hiếu. Thật vậy trong đợt đưa sách vừa qua, 1 người em của chúng tôi đã nói dối gia đình để được đi và nhận lại là 1 trận đòn nhừ tử. Hình ảnh em bị người bác bắt nằm dài ra nhà và dùng dây điện để đánh làm tôi đau thắt lại, lúc đó tôi chỉ ước rằng tôi có thể kéo em ra khỏi cái nhà đó, kéo em về với tôi, lương tôi chẳng lo nổi cho bản thân mình, tôi chẳng cho em được cuộc sống đầy đủ như bác em, nhưng tôi tin chắc rằng tôi sẽ nuôi em được bằng cả một trái tim yêu. Hôm nay trên công ty, em chát với tôi và cho xem những vết tím bầm trên cánh tay, tôi bật khóc, chẳng hiểu tại sao, tôi lại khóc ngon lành được. Ôi đứa em tội nghiệp của tôi, tôi thương em, tôi biết rằng em rất đau nhưng em lại cười và nói “sự đau đớn này thấm vào đâu so với Chúa Giesu”. Tại sao? Tại sao? Tại sao?... hàng ngàn hàng vạn câu hỏi tại sao lởn vởn trong đầu của tôi, đầu óc tôi u mê lại, tôi muốn hét lên cho sự bất công này. Tôi biết rằng, chúng tôi đã sai vì đã trót nói dối, nhưng người lớn cũng phải biết tại sao chúng tôi lại nói dối chứ. Tức nước thì sẽ vỡ bờ. 

Tại sao chúng tôi lại vẫn có thể vượt qua những khó khăn đó và tiếp tục bước từng bước đi chậm chạp... Vâng, đó là bởi sự mong muốn và niềm tin mãnh liệt rằng “Việt Nam muốn phát triển bền vững, dân tộc Việt Nam muốn tiến bộ thì tất cả người dân phải nâng cao tri thức, phải biết yêu sách và đọc sách”. Nhìn các em tranh giành nhau từng quyển sách, có em khóc nấc lên vì bạn giật mất cuốn sách mình đang đọc, có những em thấy sách đọc ngấu nghiến chẳng màng tới mọi thứ chung quanh, có những em chẳng cần kẹo bánh mà chỉ ngồi đọc cuốn “những bài thuốc chữa trị bằng rau củ quả” mà tim chúng tôi đập rộn ràng. Có em còn chui xuống gầm bàn, ngồi áp vào chân tôi để tránh sự vồ vập của các bạn. 

và những nụ cười...
 
 
 
 
Khát vọng của tri thức... và những say mê...
 
Tôi đã liên tưởng tới nạn đói năm 1945, người đói như muối bỏ biển, tạo nên những cuộc tranh giành thảm khốc... Tôi giật mình khi vô tình đọc một câu của chú Thạch trên mạng “Dân trí thấp là mảnh đất màu mỡ cho những kẻ ít học và gian manh làm chính trị thành công”. Ôi tương lai, đất nước con người Việt Nam rồi sẽ ra sao nếu thiếu hiểu biết, nếu không có tri thức các em lại được nhồi vào sọ những thứ chẳng lên nhồi... 
Việc làm của chúng tôi có người cho rằng “ như muối bỏ biển” nhưng tôi tin rằng đến một ngày nào đó có thể là 50 năm hay 100 năm dân tộc ViệtNnam sẽ phát triển bền vững, và là một nước tiến bộ. 
Lời kết:
Bài viết này quyện cùng những giọt nước mắt mà con muốn gửi đến người thân của chúng con rằng: Chúng con yêu bố mẹ, yêu gia đình, nhưng bố mẹ ơi, ngoài tình yêu gia đình ra chúng con còn phải yêu chính những người anh em của chúng con đang khóc than ở ngoài kia nữa, rồi cuộc sống của các em sẽ ra sao nếu các em không có tri thức? Bố mẹ dạy chúng con phải biết đứng lên để đòi tự do, nhân quyền và dân quyền... thế nhưng bố mẹ lại không cho chúng con có được tự do ngôn luận, tự do đi đưa sách, tự do đem yêu thương và dòng suối tri thức đến với các em thiếu may mắn hơn chúng con. Bố mẹ nói việc đó không hề xấu, ngược lại nó rất tốt, thế tạo sao bố mẹ lại ngăn cấm chúng con? Chẳng nhẽ việc đưa sách, việc khai trí là điều xấu sao bố mẹ? Khi chúng con đi chúng con đã thấy, những người em của chúng con mới lên lớp 3 đã phải nghỉ học để đi làm phụ giúp gia đình lòng chúng con đau thắt lại bố mẹ ạ. Chúng con thấy ánh mắt từ ngơ ngác, ngạc nhiên đến hạnh phúc khi các em nhận được những cuốn sách mà “chưa bao giờ được nhìn, sờ và đọc” từ tay chúng con. Chúng con đã thấy những giọt nước mắt vỡ òa vì hạnh phúc của các em, những giọt nước mắt chia tay lưu luyến bịn rịn của các em khi phải chia tay chúng con. Chúng con cũng đã thấy sự khao khát tri thức của những đứa con vùng quê nghèo… Và hơn hết chúng con dần luyện cho con tim mình luôn hướng về người khác, đôi tai lắng nghe những đồng cảm từ họ, đôi mắt nhìn đến những khó khăn trong cuộc sống mà họ phải vượt qua và tâm hồn của chúng con đã hòa vào những nỗi đau của họ để chia sẻ nó. Bố mẹ ơi chúng con thấy rằng bản thân mình đang bắt đầu gột rửa để có một hình ảnh tốt đẹp hơn rồi ạ. Để được đi, chúng con đã nói dối bố mẹ, lòng chúng con cũng dằn vặt, cũng day dứt lắm, thế nhưng con tin rằng mội ngày nào đó người sẽ hiểu chúng con và đồng hành cùng chúng con. 
Muốn gửi đến những người anh em đã đồng hành cùng tôi trong suốt thời gian qua rằng "tôi sẽ mãi yêu các bạn, chúng ta sẽ luôn vững bước bên nhau để vượt qua mọi sóng gió của cuộc đời nhé. Tôi cũng xin lỗi vì có đôi lần tôi làm các bạn buồn, phiền và phải khóc vì tôi". 
Cuối cùng, tôi xin trích dẫn câu của Nguyễn An Ninh trong bài viết "Lý tưởng của thanh niên An Nam - 1923": 
"... Văn hóa của chúng ta quá tồi tệ, thua kém... từ nước xa tới nước gần. Ngay cả trong lĩnh vực làm ăn kinh tế, văn hóa cũ rích không giúp chúng ta cạnh tranh lẫn nhau và với đối tác quốc tế hiệu quả. Chúng ta phải thay đổi văn hóa nếu muốn vươn lên, muốn không bị hết nước này, nước kia kéo tới khiêu khích, đe dọa, lũng đoạn nguồn lực trong nước!..." 
90 năm đã qua từ ngày cụ Nguyễn An Ninh viết câu ấy, chúng tôi - thế hệ con cháu của cụ vẫn lầm lũi đem con tim yêu thương của mình để làm nở những nụ cười của những em bé Việt Nam đang phải sống trên mảnh đất khô cằn tri thức.