Sunday, January 15, 2012

Có Nên Dùng Ngôn Ngữ của VC?

Đào Văn Bình
Có điều rất lạ là cho dù chúng ta (Miền Nam) và cả Miền Bắc trước khi có Cộng Sản – cũng đã có “tiếng Việt trong sáng” đã học nó, đã sử dụng nó, đã gần gũi quen thuộc với nó. Bỗng dưng gần đây trên báo, đài phát thanh hoặc liên mạng toàn cầu lại xuất hiện một lọai ngôn ngữ bắt chước VC: Đó là dùng hai chữ Thông Tin để thay cho hai chữ Tin hoặc Tin Tức!

1) Về hai chữ Thông Tin: (Sự loan truyền tin tức)
Ở duới xã ngày xưa chúng ta có: Phòng Thông Tin. Ở trung ương (Sài Gòn) chúng ta có Bộ Thông tin và các Phòng Thông Tin Quốc Ngoại tại các tòa đại sứ.
Chữ Thông Tin ở đây có nghĩa là gửi đi, truyền đi các tin tức. Vậy rõ ràng Thông Tin là một Động Từ (verb). Nếu nó là Danh Từ (noun) thì nghĩa của nó là sự loan truyền, sự gửi đi tin tức. Tự thân chữ Thông Tin không bao giờ có nghĩa là Tin Tức cả. Ngày xưa chúng ta thường nói “Thông tin cho nhau”.

2) Còn tin tức/tin = news.
Các hãng thông tấn gửi đi bản tin chứ không gửi đi
Bản thông tin. (Bản tin là nói đến các tin tức thu lượm được. Bản thông tin là bản để liên lạc, thông báo cho nhau cái gì đó. Hai chữ hoàn toàn khác nhau)
Tin vắn, tin ngắn (news in brief) chứ không phải
thông tin vắn

Tin hàng đầu (headlines) chứ không phải
thông tin hàng đầu.
Tin khẩn cấp chứ không phải thông tin khẩn cấp. Thông tin khẩn cấp có nghĩa là thông báo khẩn cấp.
Tin trong nước chứ không phải
thông tin trong nước

Tin nước ngòai, tin ngoại quốc chứ không phải thông tin ngọai quốc
Các ký giả đi săn tin chứ không đi
săn thông tin.
Tin giật gân chứ không phải
thông tin giật gân
Tin nhảm nhí chứ không phải
thông tin nhảm nhí. Khi chúng ta nói thông tin nhảm nhí thì người đọc/người nghe có thể hiểu lầm là cơ quan đó, hãng thông tấn đó chuyên loan tin nhảm nhí.
Tin tức mình chứ không phải
thông tin tức mìnhTin mừng chứ không phải thông tin mừng
Tin vui (như cưới hỏi) chứ không phải
thông tin vui.Tin buồn ( như tang ma) chứ không phải thông tin buồnTin động trời chứ không phải thông tin động trời.
Tin sét đánh ngang đầu chứ không phải
thông tin sét đánh ngang đầu
Tin hành lang chứ không phải
thông tin hành lang.
Thông tin hành lang là đi săn tin ở ngoài hành lang, nghe lóm, không qua phỏng vấn, trực tiếp truyền hình, họp báo v.v.. Còn tin hành lang là tin nghe lóm được từ hành lang. Hai thứ hoàn toàn khác nhau.
Tin chó cán xe, xe cán chó chứ không phải
thông tin chó cán xe, thông tin xe cán chó.Do đó khi chúng ta nói thông tin chó cán xe có nghĩa là chúng ta làm công việc đưa tin về con chó cán xe! Như thế là sai, mà phải nói là tin chó cán xe.
Ngày xưa khi gặp nhau, muốn tìm hiểu về tình hình thời sự chúng ta đều hỏi “Anh có tin tức, có tin gì mới lạ không?” Nếu chúng ta nói:” Anh có thông tin gì không?” thì người ta sẽ ngạc nhiên hoặc không hiểu. Hoặc người nào hiểu biết có thể nghĩ rằng:
1. Thằng cha này nó muốn hỏi mình có đi loan truyền tin tức gì không?
2. Hoặc thằng cha này chắc ở ngoài Bắc với VC lâu ngày nên tiêm nhiễm ngôn ngữ của VC!

Dùng hai chữ Thông Tin để thay cho chữ Tin hoặc Tin Tức chẳng khác nào nói:
-
Con sâu mỡ
để thay cho cái lạp xưởng.
-
Cái nồi ngồi trên cái cốc
để thay cho cà-phê phin.
-
Đồng hồ 2 cửa sổ
thay cho đồng hồ chỉ ngày và giờ.
-
Khẩn trương
để thay cho nhanh lên
-
Xưởng đẻ
thay cho nhà bảo sanh
-
Nhà ỉa
thay để thay cho cầu tiêu.
-
Chùm ảnh
để thay cho một loạt những hình ảnh, một vài hình ảnh
- Anh muốn
quản lý đời em
thay vì anh muốn về chung sống với em, anh muốn lấy/cưới em.
-
Tham quan
để thay cho du ngoạn, thăm viếng
-
Sự cố
thay cho trở ngại, trục trặc
-
Tranh thủ
thay cho cố gắng, ráng lên
- Anh muốn
liên hệ tình cảm
với em để thay anh muốn làm quen với em, muốn kết bạn với em.
-
Căn hộ
thay cho căn nhà.
-
Tư liệu
thay cho tài liệu
-
Đại trà
để thay cho cỡ lớn, quy mô.
-
Đại táo
để thay cho nấu ăn tập thể, ăn chung.
-
Kênh phát sóng
thay cho Đài: Đài Fox News, Đài CNN, Đài Số 5, Đài SBTN…
-
Phi Khẩu
Tân Sơn Nhất thay cho Phi Cảng Tân Sơn Nhất (khẩu là cửa sông chính để ra vào, không thể dùng cho một phi trường được)
- Trời hôm nay có
khả năng
mưa thay vì hôm nay trời có thể mưa
- Người dân địa phương
chủ yếu
là người H’mong Hoa – thay cho Dân địa phương phần lớn là người H’mong Hoa
- Đồng Bào
Dân Tộc
để thay cho Đồng Bào Sắc Tộc. (Dân tộc là People, Sắc Tộc là Ethnic)
-
Lính gái
thay cho nữ quân nhân
-
Thu nhập
thay cho lợi tức (lợi tức mỗi năm, mỗi tháng, lợi tức tính theo đầu người v.v..). Thuế lợi tức (income tax)
- Vietnam Air Traffic Management ngày xưa chúng ta dịch là: Quản Trị Không Lưu Việt Nam, ngày nay cán ngố VC dịch là:
Trung Tâm Quản Lý Bay Dân Dụng Việt Nam!!!
Thật điên đầu và không hiểu gì cả!
-
Đầu Ra, Đầu Vào
(input, output) để thay cho Xuất Lượng và Nhập Lượng.
- Rất
ấn tượng
thay vì đáng ghi nhớ, đáng nhớ
-
Đăng ký
thay vì ghi tên, ghi danh, đăng bạ.
- Các anh đã
quán triệt
chưa? thay vì các anh đã hiểu rõ chưa?
-
Học tập tốt thay vì học giỏi.

Tôi còn nhớ sau ngày cộng quân cưỡng chiếm Miền Nam, trong khi chờ đợi lệnh “học tập cải tạo” của Ủy Ban Quân Quản, nghe bài diễn văn của Phạm Văn Đồng mà vừa buồn vừa xấu hổ cho bọn lãnh đạo Miền Bắc, nào là: Học tập tốt, lao động tốt, báo cáo tốt, tư tưởng tốt, quán triệt tốt, quản lý tốt, quy họach tốt, sản xuất tốt, quan hệ tốt, cảnh giác tốt…cái gì cũng tốt. Chỉ còn thiếu : Ăn tốt, đái tốt, ngủ tốt, ỉa tốt nữa là xong! Vào tù chúng tôi cứ than thở với nhau “Nó ngu dốt thế mà nó thắng mình mới đau chứ!” Ôi! Quân Hung Nô tràn vào Trung Hoa!
-
Tập đoàn/Doanh nghiệp
để thay cho công ty (công ty là một hình thức tổ hợp, hùn vốn để kinh doanh. Còn doanh nghiệp giống như thương nghiệp là nghề nghiệp kinh doanh, buôn bán, nông nghiệp là làm nông, ngư nghiệp là đánh cá). Ngày hôm nay tại Việt Nam hai chữ doanh nghiệp được dùng lan tràn để thay thế cho hai chữ công ty. Sau đây mà một mẩu tin ngắn của tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn “Hội chợ A&F Expo 2005 sẽ diễn ra tại TPHCM trong năm ngày, từ ngày 6 đến 104-2005 với 100 doanh nghiệp xuất khẩu tham dự.”
-
Tiêu dùng
thay vì tiêu thụ
-
Cây xanh
thay vì cây (cây nào mà lá chẳng xanh? Nói thêm chữ xanh là thừa. Nếu tìm hiểu kỹ hơn nữa thì tại Hoa Kỳ này chúng ta thấy có khá nhiều cây lá màu nâu, nâu đậm. Nếu nói cây xanh là sai. Nói cây là bao gồm tất cả rồi. Xin mấy ông bà ở hải ngoại đừng bắt chước VC dùng hai chữ cây xanh).
-
Quan chức
để thay cho viên chức. Thật quái gở nếu ở hải ngoại này chúng ta đưa tin như sau “Một số vị lãnh đạo các đoàn thể và cộng đồng tị nạn đã gặp gỡ một số quan chức ở Bộ Ngọai Giao.”
-
Xử lý
thay vì giải quyết, chấn chỉnh, tu sửa v.v… Vì VC ngu dốt, thiếu chữ cho nên cái gì cũng dùng hai chữ xử lý: Bộ điều khiển trong máy điện tử cũng gọi là bộ xử lý. Bác sĩ giải phẫu được một ca khó khăn cũng nói là xử lý. Giải quyết giấy tờ, hồ sơ, đơn khiếu nại của dân chúng cũng gọi là xử lý. Bỏ tù người ta “mút mùa lệ thủy” cũng gọi là xử lý thích đáng!
-
Bài nói
thay vì bài diễn văn.
-
Người phát ngôn
thay cho phát ngôn viên.
- Bóng đi
rất căng
thay vì quả banh/bóng đi rất mạnh.
-
Cú sốc
thay vì bàng hoàng, kinh hoàng.
- Tình hình
căng lắm
thay vì tình hình căng thẳng. Tiếng Mỹ căng như sợi dây căng (stretch) còn tình hình căng thẳng là (intense situation)
-
Liên Hoan Phim
thay để cho đại hội điện ảnh. Ngày xưa chúng ta dùng chữ Đại Hội Điện Ảnh Cannes.
-
Ô tô con
để thay cho xe du lịch.
-
Ùn tắc
để thay cho kẹt xe, xe cộ kẹt cứng.
-
Bức xúc
để thay cho dồn nén, dồn ép, bực tức, đè nén.
-
Đề xuất
để thay cho đề nghị.
-
Nghệ sĩ nhân dân? Quả tình cho tới bây giờ tôi không hiểu Nghệ Sĩ Nhân Dân là thứ nghệ sĩ gì ? Xin vị nào hiểu nghệ sĩ nhân dân là gì xin giảng cho tôi biết.

Đấy ngôn ngữ của VC là như thế đó!
Đó là thứ ngôn ngữ của lớp người chuyên vác Aka, đeo mã tấu đi giết hại đồng bào, đặt mìn phá cầu phá đường, ngồi trên dàn cao xạ bắn máy bay Mỹ, lê lết tại các công-nông-trường tập thể, sống chung đụng tại các lán, trại trên Đường Mòn Hồ Chí Minh sống nay chết mai, chui rúc tại các khu nhà tập thể tại Hà Nội không có chỗ để giải quyết sinh lý mà phải đưa nhau ra các công viên để làm tình. Trong xã hội này thì trí thức hoặc đã bị giết hết cả, nếu còn sống thì giá trị cũng không hơn cục phân, cho nên văn hóa bị hủy diệt. Khi văn hóa bị hủy diệt thì ngôn ngữ, chữ viết chết theo hoặc biến dạng theo.

Còn ngôn ngữ của Miền Nam thì sao?
Về cổ văn, nó là cả một sự thừa kế tinh ròng và chuyển hóa từ thời Hồng Bàng, qua các thời đại huy hoàng của Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê. Từ các áng văn chương, lịch sử trác tuyệt của các cụ Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Ngô Thời Sĩ, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn. Rồi khi chữ Quốc Ngữ đựơc phát minh, nó lại được chắp cánh thêm bởi Tản Đà, Nam Phong Tạp Chí, Hoàng Xuân Hãn, Tự Lực Văn Đoàn. Rồi khi “di cư” vào Miền Nam (Xuôi Nam một dải biên cương dặm ngàn) nó lại được phong phú hóa, đa dạng hóa, văn chương hóa bởi các Nhóm Sáng Tạo, Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sĩ, Phạm Thiên Thư, Phạm Duy. Về văn chương Miền Nam lại có Đồ Chiểu, Bình Nguyên Lộc, Hồ Biểu Chánh góp phần thêm vào đó. Rồi về ngôn ngữ triết học lại có các học giả như Nguyễn Đăng Thục, Cao Văn Luận, Phạm Công Thiện, Trúc Thiên, Tuệ Sĩ, Trí Siêu.

Về mặt ngôn ngữ ngọai giao, kinh tế, xã hội, hành chánh, y khoa, giáo dục chúng ta có các bậc thầy như: Nguyễn Cao Hách, Đoàn Thêm, Vũ Văn Mẫu, Phạm Biểu Tâm, Vũ Quốc Thúc v.v… Tất cả đã đóng góp, lưu truyền, kế thừa, đúc kết cho hình hài, linh hồn ngôn ngữ Việt Nam, kế thừa của ngôn ngữ Dân Tộc- mà ngôn ngữ Miền Nam chính là biểu tượng còn sót lại. Ngôn ngữ Cộng Sản bây giờ là sản phẩm do lớp người ngu dốt tạo ra trong một xã hội nghèo đói, mà tầng lãnh đạo lại là một thứ đại ngu xuẩn và gian ác.

Nhìn ra ngòai thế giới, hầu hết các vị lãnh đạo nước Pháp đều xuất thân từ trường ENA (Trường Quốc Gia Hành Chánh). Hầu hết những người điều khiển nước Mỹ đều xuất thân từ các trường luật. Cứ thử nhìn xem những người lãnh đạo Việt Nam như Nông Đức Mạnh, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết họ tốt nghiệp những trường nào? Chắc là các trường đào tạo du kích, công an, đặc công họăc Viện Mác Lê? Lãnh đạo thì như thế, “đội ngũ cán bộ văn hóa” thì ngu dốt như thế thì nó phải sản sinh ra một thứ văn hóa, ngôn ngữ quái dị như thế. Vậy thì bảo vệ, duy trì, phát huy “Văn Hóa, Ngôn Ngữ Miền Nam” không phải chỉ là việc kỳ thị, hoặc mặc cảm đối với văn hóa VC – mà còn là để bảo vệ, giữ gìn cho một nền văn hóa, ngôn ngữ tốt đẹp của dân tộc đang có nguy cơ diệt chủng. Nếu chúng ta không làm, chúng ta sẽ đắc tội với thế hệ con cháu mai sau.

Đào Văn Bình
Ghi chú:
Bài viết này cũng còn để cảm thông, chia sẻ với:
- Trịnh Thanh Thủy tác giả bài viết “Cái Chết Của Một Ngôn Ngữ: Tiếng Việt Sài Gòn Cũ”
- Chu Đậu tác giả bài viết “Nỗi Buồn Tiếng Việt”
- Nhà văn Diệu Tần tác giả bài viết “Tiếng Việt Kỳ Cục”

Friday, January 13, 2012

Học Làm Người Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa

Chu Thập
   Quê hương thì ai cũng nhớ cũng thương. Dù chùm khế ngọt có héo đi, dù cây đa cũ bên đò xưa có thay đổi, dù con sông bờ ruộng có bị lấp đi...quê hương ấy vẫn cứ sống mãi trong ký ức và tiềm thức của tôi. Nhà văn Sơn Nam đã có lý để viết: “phong sương mấy độ qua đường phố, hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”. Sau 30 năm xa cách, tôi cũng trở về Việt nam với tâm trạng ấy và ra đi cũng với tâm trạng ấy.
 Tôi không thể nào không thương nhớ quê hương. Nhưng tôi không sợ bị kết án là vong bản để nói rằng tôi không thể nào hòa nhập trở lại vào cuộc sống ở quê hương. Sau đúng một tháng đi “xâm nhập thực tế” từ Nam chí Bắc, bằng mọi phương tiện di chuyển thượng vàng hạ cám từ máy bay đến taxi, xe đò, xe buýt, xe ôm, xe xích lô, thuyền bè, tiếp xúc với hầu hết mọi giai cấp xã hội, tôi vẫn chưa thấy mình “tốt nghiệp” từ trường học làm người Việt nam XHCN. Tôi vẫn cảm thấy lạc lõng ngay trên chính quê hương của mình.
 Suốt một tháng sống ở quê hương, theo lời ông bà dạy, tôi đã bắt đầu lại bài học vỡ lòng là “học ăn”. Trong trường XHCN hiện nay, đây là môn khó nuốt nhứt đối với tôi. Về Việt nam để ăn cho thỏa thích là chuyện có thể hiểu được đối với nhiều người Việt hải ngoại. Ai mà chẳng thèm các món đặc sản ở quê hương. Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng về khoản này. Hàng ăn ở Việt nam không thiếu. Thật không ngoa để nói rằng cả nước Việt nam hiện nay là một “hàng ăn”. Trên vỉa hè và ngay cả trên đường phố, dọc theo những con lộ ở thôn quê, chỗ nào cũng có tiệm cà phê và quán ăn. Đó là chưa kể những gánh hàng rong. Đồ ăn, món nhậu và thức uống được dọn ngay trước mặt mình vào bất cứ lúc nào trong ngày.
Đầu thập niên 80, mới đến Pháp, tôi thực sự thất vọng và cảm thấy bơ vơ trong xã hội mới: đi tìm một hàng quán là chuyện trần ai. Giá cả thì lại làm cho những người tỵ nạn chân ướt chân ráo phải dội ngửa. Đó là chưa kể ngày chúa nhựt:  phố xá đóng cửa im thin thít. Có đói thì cũng đành phải bóp bụng mà kéo lê từng bước mỏi mệt đến hằng bao cây số may ra mới tìm được một tiệm ăn bình dân.
Đến Ý tôi lại càng bực mình hơn: cứ từ hai giờ trưa đến bốn giờ chiều, mọi quán sá đều đóng cửa. Mặc cho du khách có réo gọi, người ta vẫn cứ tỉnh bơ ngủ trưa đã.
Ở Việt nam XHCN hiện nay thì trái lại, muốn ăn cái gì cũng có, muốn ăn giờ nào cũng được, muốn ngồi ăn ở đâu cũng chẳng ai cười. Có lần trên một chuyến taxi, tôi nêu thắc mắc với người tài xế: tại sao ở VN người ta “ăn nhậu” liên tục như thế?  Anh trả lời rằng đa số người Việt nam hiện nay sống rất hiện sinh. Anh giải thích rằng người Việt Nam ăn nhậu xả láng là vì không muốn nghĩ đến ngày mai và cũng chẳng có ngày mai mà nghĩ. Kiếm được đồng nào xài đồng đó. Đó là chủ trương sống của rất nhiều người Việt nam hiện nay. Không chỉ có những cán bộ phì nộn, ăn mặc bảnh bao hay các đại gia và giai cấp nhà giàu mới mới ăn nhậu, xem ăn nhậu như thủ tục đầu tiên, người dân lao động, những kẻ ăn không ngồi rồi cũng ăn nhậu và ăn nhậu suốt ngày, suốt đêm.
Sau một tháng về thăm Việt nam, đứng lên bàn cân, tôi sụt ký thấy rõ vì không muốn và không dám ăn một cách “thỏa thích” như mọi người. Tôi thực sự cảm thấy ái ngại mỗi khi bước vào một nhà hàng sang trọng. Giá cả không quá cao nếu so với Úc và các nước văn minh. Nhưng trong một đất nước mà thu nhập bình quân của một người lao động phổ thông vẫn còn ở mức dưới 5 Mỹ kim một ngày thì một bữa ăn trong một nhà hàng giá đến vài chục Mỹ kim, chưa kể tiền bia rượu, thì đây hẳn là một cách tiêu xài xa xỉ chỉ dành riêng cho giới nhà giàu mới trong xã hội.
 Tôi không thấy thoải mái để bước vào các nhà hàng sang trọng . Cơm đường cháo chợ thì ê hề. Nhưng ngặt một nỗi, vì đã lỡ học cái thói vệ sinh của các nước văn minh cho nên có thèm nhỏ rãi tôi cũng đành ăn hàm thụ. Trong những ngày đầu, bị tào tháo rượt một lần, tôi tởn tới già. Cùng lắm, muốn ăn món tủ, nhà tôi đành phải mua rau cỏ về nhà rửa sạch với thuốc rửa rau mà chúng tôi mang theo từ Úc, rồi đem ra nhà hàng ăn thay vì ăn rau của họ trước con mắt khó chịu của người xung quanh. Ngoài ra, xuất xứ của các thứ thịt cá được dọn ra trong các hàng quán cũng khiến tôi nghi ngại. Những con thú chết vì bệnh thay vì đem chôn được xẻ thịt ra bán trong chợ là chuyện có thật được chính báo chí Việt nam phanh phui. Thịt quay  treo lủng lẳng trên đường phố đầy bụi bậm và ngày này sang ngày khác là chuyện mà tôi thấy trước mắt mỗi khi xuống đường. Ngay chợ Đồng xuân, nhà tôi đã vô tình chứng kiến cảnh người ta xẻ thịt bò ngay trên nền chợ lầy lội nước.
Tựu trung, các hàng ăn ở Việt nam kinh doanh bằng mọi giá, bất kể các tiêu chuẩn vệ sinh và chuẩn mực đạo đức. Xét cho cùng, nếu ăn uống là thể hiện của văn hóa một đất nước, thì điều được gọi là “văn hóa ẩm thực” của Việt nam  hiện nay cũng nói lên sự dối trá và lừa gạt vốn tràn lan trong xã hội. Muốn có chỗ ăn ngon, sạch, đúng giá thì chỉ có nước nhờ người quen mách bảo.
 Tôi thấy mình chưa thuần thục trong bài “học ăn” ở Việt nam. Sang đến chuyện “học nói” thì tôi lại càng thấy mình  “ngọng” hơn. Cả nước Việt nam không chỉ là một “hàng ăn” mà còn là một khu triển lãm các khẩu hiệu. Từ thành thị đến thôn quê, từ các đường phố sang trọng đến các con hẻm tồi tệ bẩn thỉu, ở bất cứ ngõ ngách nào, du khách cũng có thể đọc được những khẩu hiệu. Từ việc ca tụng đảng cộng sản Việt nam quang vinh đến nếp sống văn minh, xem ra người Việt nam xã hội chủ nghĩa sống bằng khẩu hiệu hơn với thực tế. Quả thực, đi đâu tôi cũng thấy “mưa sa trên mầu cờ đỏ” và bơ vơ trong rừng khẩu hiệu. Lạc lõng hơn nữa khi mở các kênh truyền hình chính của Việt nam. Cái giọng Bắc hoàn toàn khác với giọng Bắc “năm mươi tư” không thể không làm cho tôi nghe đau lỗ tai. Phải nói thật sự có một “Nước Bắc” xâm chiếm Miền Nam Việt Nam và áp đặt không chỉ ý thức hệ mà còn cả văn hóa, ngôn ngữ và giọng nói. Trước 75, trong miền Nam làm gì có chiếc xe “ô tô”, “ điện ô tô” hay “xe con” hay làm gì có chuyện “đảm bảo”. Tôi thấy rõ chuyện “thực dân mới” ấy trên chuyến bay từ Hà nội về Sài Gòn. Thông thường các cô tiếp viên của các hãng không dân dụng Á châu đều có một sắc đẹp đủ để đại diện cho đất nước của mình. Nhưng trong chuyến bay của hãng Jetstar từ Hà nội vào Sài Gòn hôm đó, tôi hoàn toàn thất vọng về cô tiếp viên trưởng. Với “nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai”,  nếu cô được chọn làm  tiếp viên trưởng của chuyến bay thì chắc chắn cô chỉ có thể là “con ông cháu cha” mà thôi. Tôi lại càng nghĩ rằng tôi không đoán sai điều đó,bởi vì khi cô mở miệng nói với hành khách bằng tiếng “Nước Bắc” thì tôi chẳng hiểu gì “sốt”. Đến khi cô “dịch” sang Anh ngữ thì tôi lại càng “điếc” và không biết cô nói tiếng nước nào.
Nói như thế không có nghĩa là tôi giỏi và nói tiếng Anh rành đến độ quên tiếng mẹ đẻ. Thật ra, vấn đề tiếng Việt của tôi ở Việt nam không phải là “nói” cho bằng là “hiểu” cái lối nói “xa lạ” hiện nay của nhiều người Việt nam. Không kể đến chuyện người ta cho vào bảo tàng viện hai tiếng “xin lỗi” và “cám ơn”, cái cách ăn nói cộc lốc, thiếu lịch sự, thiếu lễ độ, thiếu cả văn minh... của người Việt nam XHCN vừa làm cho tôi đau lỗ tai vừa làm cho tôi đau lòng. Đau lòng thực sự bởi vì cái lễ giáo và nét đẹp của cách nói năng được nhào nặn từ bao thế hệ đã hầu như hoàn toàn bị xóa bỏ. Tôi rất sợ vào chợ để mua hàng. Tôi sợ khi phải sờ đến một món hàng và hỏi một câu, mặc dù đã cố gắng  để tỏ ra lịch sự hết sức có thể. Tôi sợ là bởi vì lúc nào mình cũng có thể được đáp trả bằng một tràng câu nói như chửi vào mặt.
Quả thật, một tháng có lẽ chưa đủ để tôi “học nói” lại trong Việt nam XHCN hiện nay. Sau chuyện “học ăn, học nói”, tôi lướt qua  chuyện “học gói học mở” để đi thẳng vào một chuyện tối quan trọng trong những ngày sống ở Việt nam: đó là chuyện “học đi”.
Tôi còn nhớ: cách đây vài năm, nhân một cuộc họp APEC được tổ chức tại Hà nội, một nữ phóng viên Phi luật tân tháp tùng phái đoàn chính phủ Phi, đã ghi lại hai nhận xét mà cô cho là tâm đắc nhứt trong chuyến thăm Việt nam: một là con trai Việt nam không đẹp, hai là: ai muốn tự tử cứ “đi bộ” băng qua các đường phố ở VN.
Cả hai điều, tôi đều thấy đúng cả. Tuần cuối cùng ở Sài Gòn, không biết làm gì, tôi bắt xe buýt đi Thủ Đức, Biên Hòa. Tại đây tôi được dịp nhìn thấy làng đại học của Miền Nam Việt nam. Có cả một trường đại học quốc tế (International University) mà tôi không biết của nước nào.  Nhưng phải nói là nhận xét của cô phóng viên người Phi thực là chính xác: trong đám nam sinh viên, rường cột và tương lai của đất nước, chen chúc trên xe buýt hay đi bộ đến trường, tôi chỉ nhìn thấy những tấm thân ốm o, còm cõi, nhỏ bé và những gương mặt thiếu sức sống và sự tỏa sáng. Ôi ! Thật là nhục nhã cho các đấng Sinh viên VN !!!
Nhưng trở lại với bài “học đi” mà tôi đã cố gắng học trong những ngày lê bước ở Việt nam. Phải nói ngay rằng người Việt nam XHCN hiện nay rất ít đi bộ. Không cần phải nhìn cách tôi ăn mặc hay nghe tôi nói chuyện mà chỉ cần thấy tôi đi bộ hay băng qua đường là biết rõ tôi không phải là người Việt nam XHCN. Ở Việt nam, cứ bước ra khỏi nhà thì hầu như ai cũng cỡi xe gắn máy hay ít nhứt trèo lên xe ôm. Tôi không biết mình có quá chủ quan không khi nói rằng có lẽ không nơi nào trên thế giới có nhiều xe gắn máy cho bằng Việt nam, không có nơi nào trên thế giới bị ô nhiễm cho bằng các đường phố ở Việt nam và dĩ nhiên cũng không có nơi nào trên thế giới “nguy hiểm” cho khách bộ hành cho bằng VN. Quả thật, nếu muốn tự tử một cách dễ dàng, chẳng cần phải nhảy cầu, trầm mình xuống sông, rơi từ cao ốc, uống thuốc ngủ hay thắt cổ: chỉ cần hiên ngang băng qua đường ở VN cũng đủ để đi thẳng vào thế giới khác ngay.
Ở Việt nam luật đi đường nào cũng có, nhưng chẳng ai tuân giữ và khách bộ hành là hạng người rẻ nhứt trong xã hội. Ở Việt nam, công an giao thông đứng đầy đường, nhưng không phải để hướng dẫn về giao thông mà chỉ để được người lái xe “hối lộ” hay “mãi lộ” theo đúng nghĩa. Hôm giỗ cụ Nguyễn Trung Trực, bị kẹt trong một rừng người hỗn loạn thiếu điều đạp lên nhau tại Rạch giá, tôi không sao tìm thấy bóng một cái “áo vàng”.
Tôi vẫn nhớ mãi chuyến đi từ Vũng Tầu ra Nha Trang. Tài xế của chuyến xe, như anh tự giới thiệu, một người Thanh Hóa đã từng là công an. Nói chung, những tài xế người “Nước Bắc” có lối lái xe phải nói là “mất dạy” và lối nói năng cũng “mất dạy” hơn tài xế Miền Nam. Suốt chuyến đi, vì ngồi sau lưng anh, tai tôi bị tra tấn vì những câu văng tục liên hồi của anh. Nhưng được bộ nhớ của tôi ghi nhận kỹ nhứt là lúc anh trả lời cho một hành khách muốn xuống trước đồn công an gần một cổng trường tiểu học. Anh nói: “Làm gì có đồn công an gần một trường học. Chẳng có thằng ngu nào lại đi xây một trường học bên cạnh một đồn công an, bởi vì làm như thế thì trẻ con sẽ phải làm chó trước khi kịp“học làm người”.
Tôi đã học được rất nhiều bài học trong một tháng đi “thực tế” ở Việt nam. Nhưng bài “học đi bộ” thì tôi đành bỏ cuộc. Mỗi lần băng qua đường mà còn lành lặn, tôi xem như một phép lạ. Theo tôi, lối giao thông ở Việt nam thể hiện đúng cách sống của người Việt nam XHCN hiện nay: ở đâu người ta cũng có thể luồn lách và tránh né miễn là được việc và dĩ nhiên được việc cho bản thân mình trước đã. Người khác có sống chết ra sao cũng mặc kệ.
Về thăm lại quê hương tôi thấy buồn nhiều hơn vui. Phải nhìn nhận, sau 30 năm “xây dựng” xã hội chủ nghĩa, có một số dấu hiệu của phát triển: nhiều cao ốc hơn, nhiều đường sá hơn, cuộc sống vật chất và tiện nghi có khá hơn. Nhưng thật đáng buồn cho một đất nước khi sự phát triển hỗn loạn đã bóp nghẹt và chà đạp những giá trị tinh thần và luân lý. Nói như ai đó, phần “con” trong "con-người" Việt nam XHCN đã phát triển hơn, nhưng phần “người” thì lại ngày càng nhỏ lại.
Nghĩ như thế mà buồn cho quê hương!
Ngày Tôi Về
Nhạc: Anh Bằng
Thơ : Phạm Thiên Lý
Tiếng hát: Hạt Sương Khuya



TRỞ VỀ SAIGON

Trở về SaiGon với cái tên xa lạ
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố giữa đường
Màu cờ đỏ nghe tim như rướm máu
Của những ngày cải tạo mịt mù sương

Tôi lạc loài như nai vàng ngơ ngác
Mắt đầy nắng mà hồn đầy giá băng
Trong chiêm bao tôi gặp người em nhỏ
Ôm xác mẹ hiền trong ngày di tản
Hơn 20 năm rồi như mới hôm qua

Mái trường đó mỗi ngày tôi đến học
Xác phượng hồng rơi như mưa bụi bay
Phượng thì còn nhưng mái trường đã mất
Ngôi nhà xưa treo tấm bảng Công An Phường

Trước cổng Chùa giăng đầy hàng quán nhậu
Loa phóng thanh át cả tiếng kinh cầu
Cạnh Thánh Giá treo hình Hồ chủ tịt
Người quét đường nhìn tượng CHÚA rưng rưng

Sài Gòn ơi ! tình tôi nay đã chết
Còn một chút buồn chen lẫn chút đau

Tôn Thất Phú Sĩ

BẢN NHẠC " DẬY MÀ ĐI " : Gậy Ông Đập Lưng Ông !

Về một bài hát, nên hay không nên?

Một bài viết trên liên mạng tin tức nói rằng khối 8406 (phong trào dân chủ tại quốc nội) nhận ca khúc “Dậy mà đi” làm bài hát chính thức của phong trào. Cuộc tranh luận về việc đó đã vỡ ra, bắt đầu sôi động, nóng bỏng, và có thể sẽ bị đối phương khai thác với dụng ý phân hóa hàng ngũ của những người đấu tranh.

Xuất xứ của bài “Dậy mà đi” ra sao? Tác giả là ai? Nó xuất hiện từ bao giờ? Tại sao nên dùng hay không nên dùng?

Trước hết, tác giả bài hát “Dậy mà đi” là Tôn-thất Lập, không phải Phạm Trọng Cầu hay ai khác như có người ghi nhầm. Lời ca của bài hát phổ từ bốn câu đầu, bài thơ “Dậy mà đi” của Tố Hữu, viết năm 1941, in trong tập thơ “Từ ấy”, xuất bản năm 1946.

Ca khúc “Dậy mà đi” ra đời trong chiến dịch 1966-67, để chuẩn bị cho cuộc Tổng công kích 1968, lấy thơ Tố Hữu làm định hướng chính trị (như bài “Tự nguyện” của Trương Quốc Khánh, “Dậy mà đi” của Tôn-thất Lập) và tất cả đều qua tay Lưu Hữu Phước đãi lọc, có khi trau chuốt thêm. Khi viết bài này Tôn-thất Lập ký tên “Nguyễn Xuân Tân”. Sau 1975, Tôn-thất Lập ghi tên “Nguyễn Xuân Tân” trong tiểu sử, là một trong những bút hiệu đắc ý của anh ta, sáng tác để khích động phong trào sinh viên miền Nam xuống đường chống chính phủ VNCH. Hiện Tôn-thất Lập là phó chủ tịch Hội Âm Nhạc Việt Nam, tổ chức ngoại vi của Mặt Trận Tổ Quốc.

Bài thơ “Dậy mà đi” của Tố Hữu, nguyên văn như sau:

Dậy mà đi! Dậy mà đi!
Đừng tiếc nữa, can chi mà tiếc mãi ?
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại
Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần ?
Huống đường đi còn lắm bước gian truân
Đây chưa phải trận sau cùng chiến đấu!
Thì đứng dậy, xoa tay và tự bảo:
Chỉ còn đây sức lực hãy còn đây!
Lòng không nghèo tin tưởng ở tương lai
Chân có ngã thì đứng lên, lại bước.
Thua ván này, ta đem bầy ván khác,
Có can chi, miễn được cuộc sau cùng
Dậy mà đi, hy vọng sẽ thành công
Rút kinh nghiệm ở bao lần thất bại:
Một lần ngã là một lần bớt dại
Để thêm khôn một chút nữa trong người.
Dậy mà đi, hỡi bạn dân nghèo ơi!
(Tháng 5-1941)

Lời ca của Tôn Thất Lập:

Dậy mà đi. Dậy mà đi.
Ai chiến thắng không hề chiến bại?
Ai nên khôn không khốn một lần?
Dậy mà đi. Dậy mà đi.
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!

Đừng tiếc nữa can chi khóc mãi.
Dậy mà đi núi sông đang chờ.
Dậy mà đi. Dậy mà đi.
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!

Bao nhiêu năm qua dân ta sống không nhà.
Bao nhiêu năm qua dân ta chết xa nhà.
Dậy mà đi. Dậy mà đi.
Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!

Trong 21 năm của cuộc chiến tự vệ chống lại sự bành trướng của cộng sản quốc tế, Miền Nam đã “vướng” rất nhiều bài hát của Lưu Hữu Phước, kể cả bài Quốc ca và Hồn tử sĩ (nhạc nền cho phút mặc niệm trong nghi lễ), ngoài các bài sử ca như Bạch đằng giang, Ải Chi lăng, Hội nghị Diên Hồng,.. Trong khi đó, bài hát chính thức của MTGPMN, là “Giải phóng miền Nam” cũng của Lưu Hữu Phước, ký tên “Huỳnh Minh Liêng” (tức Hoàng Mai Lưu, sau bị đọc nhầm là Huỳnh Minh Siêng). Lưu Hữu Phước là tác giả của hai bài hát chào cờ của hai phe đối nghịch!

Quốc hội khoá 2 của đệ nhất Cộng hoà đã nhận dự thảo tu chính Quốc ca, dùng bài “Việt Nam minh châu trời Đông” để thay thế bài của Lưu Hữu Phước . Việc chưa ngã ngũ thì đệ nhất Cộng hoà sụp đổ, hỗn loạn, đảo chánh liên miên, “Quốc ca” trở thành chuyện nhỏ, ít ai quan tâm, ngoại trừ việc sửa lại nửa câu đầu bằng lời cũ của “Tiếng gọi sinh viên”: “đứng lên đáp lời sông núi” thay vì “quốc gia đến ngày giải phóng.” Gọi là sửa, nhưng kỳ thực là lấy lại lời ca của Hoàng Mai Lưu (Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước); và chỉ sửa nửa vời khiến hai câu đầu bị lạc vận. Câu đầu “đáp lời sông núi” không đi với câu kế, “đồng lòng cùng đi hy sinh thiết gì thân sống”!

Nhưng đó là chuyện xưa, trong cuộc chiến tranh cài răng lược, trong trạng thái xôi đậu, da beo, địch và ta lẫn lộn. Bây giờ trạng thái lẫn lộn không còn nữa. Cán bộ nằm vùng đã công khai ra mặt, kể công, chia chác. Nhân dân bị áp bức, người thì đã bỏ nước ra đi, kẻ ở lại nếu không mạnh dạn chống đối thì thờ ơ không hợp tác. Những bài hát thời giả dạng sinh viên để cướp chính quyền nay đã được các tác giả minh danh nhận làm công trạng của họ. Ai ở đâu ở đó, giai đoạn trá nguỵ nhập nhằng đã qua.

Lai lịch của bài hát “Dậy mà đi” không còn huyền ảo, mù mờ nữa: rất minh bạch, nó là bài hát của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, công cụ của cộng sản Bắc Việt.

Nó, bài “Dậy mà đi” là niềm đau của dân tộc; là cáo trạng của một sự lường gạt tri thức; là vết hằn của một lớp người từng bị nó dẫn dụ xuống đường, nổi dậy để tiêu diệt tự do của chính mình, và lôi cả nước vào vòng ô nhục, quẫn bách. Nó, đã góp phần dựng nên cái bạo quyền mà chúng ta đang vận động để giải thể.

Cái gì của bạo chúa hãy trả lại cho bạo chúa. Chúng ta có hàng mấy mươi nhạc sĩ ưu tú ở hải ngoại và quốc nội. Hưởng ứng những lời kêu gọi gióng lên khắp nơi, từ Văn Bút, Hưng Ca, Hội Nhà Văn Lưu Vong, Diễn đàn Phố Nắng,.. chỉ trong vòng 10 ngày, tôi đã trông thấy hơn hai mươi ca khúc viết cho Cách mạng hoa lài Việt Nam ra đời, với Nguyệt Ánh (3 bài), Việt Dzũng (2 bài), Việt Phương (2 bài), Linh Phương (2 bài, một bài phổ thơ Lê Thị Công Nhân), Lê Hữu Mục, Viễn Phương, Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Lạc Việt,..

Dòng ca nhạc đấu tranh của người Việt bừng bừng sức sống. Chúng ta đã có cái mới phong phú và đa dạng. Đã đổi mới, hãy đổi mới toàn diện.

(Nguyễn Hữu Nghĩa )

Tôn Thất Lập: cán bộ tuyên huấn cộng sản

Tôn Thất Lập là sinh viên khóa 3 Sư Phạm thuộc đại học Huế, là một cán bộ hoạt động nội thành. Cuối thập niên 60, Tôn Thất Lập được đưa vào Sài Gòn với lý do lấy vài lớp ở trường Luật, nhưng mục tiêu là để tăng cường cho sinh hoạt tại Sài Gòn của phong trào SinhViên Tranh Đấu, với Hội Liên Hiệp Thanh Niên Sinh Viên Học Sinh Giải Phóng làm hậu thuẫn. Hội này là do Đoàn Thanh Niên cộng sản HCM đẻ ra để thu nạp đoàn viên trước khi đưa vào thành đảng viên cộng sản. Cùng thời với Tôn Thất Lập là các sinh viên Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Phạm Xuân Tể, Trần Luyến, Nguyễn Minh Triết,... Nguyễn Minh Triết là chủ tịch nhà nước CSVN hiện nay. Rồi Tôn Thất Lập vào bưng, được đưa ra Hà Nội dự khóa huấn luyện tuyên huấn, sau đó trở về phục vụ trong Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Năm 1974, Tôn Thất Lập được đưa sang Pháp và hoạt động cùng với sinh viên theo cộng sản ở thành phố Paris, và xâm nhập Tổng Hội Sinh Viên Paris.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 tang thương, Trần Luyến phục vụ ngành phản gián của Việt cộng để chỉ điểm thành phần chống cộng của miền Nam, và Tôn Thất Lập trở về nước, tiếp tục hoạt động trong ngành tuyên huấn, hội Âm Nhạc Giải Phóng và Hội Nhạc Sĩ Việt Nam cho đến hôm nay.

Cùng là nhạc sĩ sáng tác các bài hát chống chiến tranh, nhưng tại sao Tôn Thất Lập được chế độ trọng dụng hơn ?

Tôn Thất Lập, vốn là người rất thuần bản chất cộng sản. Cao điểm là bài hát "Hát Cho Dân Tôi Nghe" được sáng tác vào năm 1967, Hát Cho Dân Tôi Nghe cũng là tên gọi phong trào của thanh niên cộng sản vào cuối thập niên 60 đầu 70:

Hát cho dân tôi nghe, tiếng hát tung cờ ngày nào.
Hát cho đêm thiên thu, lửa cháy bên trại giặc thù.
Hát âm u trong đêm, muôn cánh tay đang dậy lên.
Hát cho anh công nhân, xiềng xích như mây tan hoang.
Hát cho anh nông dân, bỏ cày theo tiếng loa vang.

Tôn Thất Lập thôi thúc thanh niên miền Nam xuống đường chống chính phủ: "Sinh viên học sinh phải chọn văn nghệ làm vũ khí đấu tranh", với chiêu bài "chống Mỹ cứu nước". Sang đến Paris, Tôn thất Lập mang theo công tác gieo mầm "chống Mỹ" trong giới sinh viên Việt Nam ở Âu Châu, hòa nhập với phong trào phản chiến lan tràn khắp nơi trên thế giới. Bên trong Việt Nam là một xã hội rối bời do những hoạt động khuấy rối của đảng cộng sản Việt Nam, bên ngoài là làn sóng phản đối chiến tranh do cộng sản quốc tế yểm trợ, cuối cùng miền Nam mất vào tay cộng sản.

Làm Ðược Gì và Ðược Làm Gì?

Ðảng cộng sản Việt Nam đến lúc cần đến sự tiếp tay của thanh niên và trí thức hải ngoại trở về "xây dựng tổ quốc", "đồng hành với dân tộc", nên một lần nữa lại đưa các cán bộ tuyên huấn ra hải ngoại. Bắt đầu từ cuối thập niên 90, Tôn Thất Lập cùng với đoàn giao lưu văn hóa đã lên đường sang Âu Châu phát động phong trào "Về Nguồn", "xây dựng Tổ Quốc", "xóa bỏ hận thù",... Ở quê nhà, bài hát Dậy Mà Ði lại được vang lên khắp nơi. Các cán bộ xung kích thời "kháng chiến chống Mỹ" lại được sử dụng như một mũi xung kích mới, là cất lên "lời réo gọi của Tổ Quốc",... Năm 2001, dĩa hát Dậy Mà Ði được xuất bản với những bài hát được sáng tác thời sinh viên xuống đường chống chính phủ miền Nam. Phong trào hát lại những bài hát này được phổ biến tích cực cho đến hôm nay, đảng lặp lại không khí "Hát Cho Ðồng Bào Tôi Nghe" qua các chương trình văn nghệ "Ðêm Nhạc Tôn Thất Lập", "Những Bài Ca Không Quên",... Tháng Tư năm 2005, các "chiến sĩ xung kích" của thập niên 60, 70 đã họp mặt tại Huế và Sài Gòn với Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Trần Quãng Long, Trần Triệu Luật, Tôn Thất Lập, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Miên Ðức Thắng,... Sang đến năm 2006, 2007 cũng có nhiều chương trình văn nghệ trên sân khấu đại học, truyền hình, truyền thanh,... tiếp tục diễn ra và Dậy Mà Ði được sử dụng rất nhiều.

Trong lúc ấy, Việt cộng đang muốn củng cố Ðoàn Thanh Niên cộng sản HCM và cũng nhân dịp này khơi dậy lòng yêu nước trong giới sinh viên, cũng sử dụng bài hát Dậy Mà Ði cùng với nhiều bài khác trong tập "Hát Cho Dân Tôi Nghe" của nhóm "Sinh Viên Tranh Ðấu chống Mỹ" trước đây. Các hệ thống truyền hình, truyền thanh và Internet của đảng cộng sản Việt Nam vang lên bài hát Dậy Mà Ði và giương lên cờ đỏ của đảng cộng sản Việt Nam khắp nơi.

Sinh viên Hà Nội và Sài Gòn xuống đường chống Trung Cộng cũng cầm cờ đỏ, cũng hát Dậy Mà Ði.

Gậy ông chưa biết sẽ đập lưng ai?

Xin mời nghe ca khúc “Dậy mà đi” (Người Việt Hải Ngoại version) do Nguyệt Ánh và Việt Dzũng trình bày dưới đây:

Thursday, January 12, 2012

Đất Nước Tôi Có Nhiều Cái Lạ


Tác Giả: Chu Tất Tiến   
Thứ Tư, 11 Tháng 1 Năm 2012 11:17


Tất cả những gì liên hệ đến kẻ xâm lược này đều cho thêm chữ “lạ” đàng sau, tưởng rằng như thế có thể lấp liếm được thái độ khiếp nhược của mình.
Ngày 10 tháng 12 năm 2011, trên nhiều hệ thống truyền thông, radio, TV, báo ngày, báo tuần.. tại hải ngoại đều đăng tin 2 chiếc “tầu lạ” đâm chìm thuyền của ngư phủ Việt Nam, “may mắn” chỉ chết chìm có 10 người, còn 16 người được cứu sống. Theo người sống sót thì hai chiếc tầu “đao phủ” kia không mang cờ hiệu, nên không biết tầu của nước nào, nên gọi luôn là “tầu lạ”, bắt chước danh từ của Nhà Nước cho tiện việc.

Cách đây vài năm, một danh từ mới đột nhiên xuất hiện trên các trang báo và trên đài phát thanh, truyền hình của nhà cầm quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: “Tầu Lạ”! Danh từ mới này được dùng để chỉ những chiếc tầu “lạ” đến tấn công các tầu đánh cá Việt, tịch thu dụng cụ đánh bắt cá của ngư dân Việt, đâm chìm tầu Việt, bắn giết ngư phủ Việt, và còn bắt cóc rồi đòi tiền chuộc mạng. Dĩ nhiên, địa điểm để mang tiền đến nộp hầu chuộc mạng ngư dân về đều đã được thông báo đàng hoàng trên văn bản, nhưng vì lý do nào đó, nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam vẫn cho là họ dùng “tiếng lạ”, nên không hiểu. Nguyên cả một tập đoàn cầm quyền có hàng ngàn, hàng vạn Tiến Sĩ có bằng cấp được phát từ các trường “học đại” trong nước hay từ các đại học nước ngoài nơi có thông dịch viên tiếng Việt dịch giùm cho các Tiến Sĩ khi thi lấy bằng, đều không hiểu cái “tiếng lạ” kia nói gì, viết gì, nên vẫn tiếp tục dùng hai chữ  “Tầu Lạ” để tiếp tục nói về những chiếc tầu có vũ khí tiếp tục đàn áp ngư dân mình, cấm đoán ngư dân mình ra biển. Từ sự chính thức hóa của nhà nước, một danh từ khác được dân chúng bổ xung thêm để chỉ một giống người xuất hiện đông đảo trên đất của nước ta: “Dân Lạ!” Tuy hình dáng, tướng vóc, và tiếng nói, cũng như cách hành xử của giống “Dân Lạ” này đã được dân ta nhận diện từ mấy ngàn năm trước, nhưng vì nhà nước, có lẽ quá sợ hãi trước sức mạnh của giống dân ấy, nên đã thần thánh hóa từ ngôn ngữ đến con người của họ, và tuyên bố với dân chúng rằng “đó là giống dân lạ, chủ nhân những chiếc tầu lạ, cho nên Nhà Nước chào thua!”
Bên cạnh các nhóm “dân lạ”, lại có danh từ “hàng lạ” để chì những hàng hóa được vận chuyển kìn kìn công khai qua cửa ngõ “Hữu Nghị Quan”, hoặc chở bằng xe hỏa, xe hơi, tầu thủy, máy bay tràn ngập Việt Nam. Những món hàng này không cần khai quan thuế, không cần kiểm nghiệm, cứ “tự nhiên như người Hà Lội”, xâm nhập kinh tế Việt Nam, làm cho hàng hóa nội địa ngắc ngoải. Công An Bảo Vệ Kinh Tế 1,2,3,4,5, Công an khu vực, Công An Biên Phòng, Công An Hải Quan, Công An Bảo Vệ Chính Trị, Công An Thành Phố, Công An Phường, Công An Quận, Công An Giao Thông… tất cả các loại Công An đều im thin thít trước các kiện “hàng lạ” này, không một ai dám giơ cái dùi cui cao su lên để hỏi giấy tờ cả. Những cái gậy cao su, súng ngắn, súng dài, hay còng số 8 trang bị cho Công An chỉ để dùng với người dân Việt mà thôi, còn với “dân lạ, hàng lạ, tầu lạ” thì bỗng nhiên súng bị kẹt đạn, dùi cui cao su trở thành mềm nhũn như “cái của không lạ” của quý ông khi đến tuổi hưu, giơ lên không được, còn còng số 8 thành đồ chơi con nít.
Vì thế các “hàng lạ” vẫn theo nhau tuôn chẩy vào đất nước mình. Rồi, “văn hóa lạ” từ đó mà phát triển cực kỳ thoải mái, không như văn hóa hải ngoại bị cho là “văn hóa tàn dư Mỹ Ngụy, văn hóa độc hại, văn hóa tư bản, văn hóa tuyên truyền chống phá nhà nước…” nên cần phải cấm chỉ. Kẻ nào lưu hành các loại văn hóa tàn dư ấy có thể bị trừng trị thích đáng bằng cách hình thức côn đồ, du đãng, hoặc bị tống vào tù khổ sai triền miên.

Trong vấn đề ăn uống, cũng có nhiều cái lạ: “trái lạ (quả lạ), rau lạ,  thực phẩm lạ!” Những trái cây lạ to đẹp, bóng loáng, những bó rau lạ xanh mướt, to đùng, những quả trứng đẹp bóng, những vỉ bì trắng bóc, những con khô mực thướt tha… Nhưng, trông vậy mà không phải vậy, ăn vào thì mới biết những thực phẩm lạ kia được tẩm “thuốc lạ” , cứ xịt vào cái chất gì trăng trắng, vàng vàng, là trái cây đột ngột lớn lên. Những con khô mực làm bằng cao su, trứng gà làm bằng cái chất lạ gì ấy, những vỉ bì ung thối nếu được rửa bằng thuốc lạ, thì lập tức trắng tinh…Dân Việt mình ăn cái của lạ ấy vào mà không chết ngay thì cũng chết từ từ, tàn cả một thế hệ.

Gần đây, trong đầu tháng 6 năm 2010, một danh từ “lạ” nữa được bản tin được Nhà Nước phổ biến, đó là “hỏa tiễn lạ”: Một “hỏa tiễn lạ” đã rơi xuống thị xã An Giang làm chết 4 bộ đội và làm bị thương nhiều người khác! Quả hỏa tiển “lạ” này, nếu như ở đất nước Tự do khác, thì chỉ cần năm, mười phút tìm một mảnh vỡ là đủ biết tên của quốc gia nào xử dụng liền, nhưng như đã nói ở trên, vì nhà nước quá sợ hãi sức mạnh của “nước lạ” ấy, nên đành im re, và cho chữ “lạ” vào sau, thế là xong nợ với nhân dân!
Ngày xưa, khi mà trình độ dân trí còn kém cỏi, văn minh còn trong tình trạng chậm phát triển, các cụ mình, khi đứng trước các sức mạnh khó chống lại, đành dùng chữ nghĩa linh tinh để lấp liếm sự nhút nhát của mình. Gặp con cọp, lại gọi là “Ông Ba Mươi”. Bị cá sấu hay cá mập nuốt, lại gọi bằng “ông Hà Bá”. Trông thấy con cá voi chết, lại xúm nhau lạy, và đặt tên là “Cá Ông” rồi thờ kính. Trong làng xã, có mấy tên hung dữ, thì gọi là “ông Kẹ”. Bây giờ, thời buổi văn minh hơn, người ta nhìn lại những sự việc cũ mà buồn cười. Nhưng, thực tế đau lòng là tuy người dân đã hiểu rõ mọi vấn đề, không còn điều gì ngớ ngẩn mà không rõ, thì chính Nhà Nước, cái bộ máy cầm quyền, có hàng triệu cây súng đủ loại trong tay, có rada, có tầu ngầm, có tuần dương hạm, có máy bay vượt tường âm thanh, lại tỏ ra hèn nhát, khiếp nhược một cách vô cùng nhục nhã trước một kẻ thù phương Bắc để phải đặt tên cho chúng là “người lạ”! Tất cả những gì liên hệ đến kẻ xâm lược này đều cho thêm chữ “lạ” đàng sau, tưởng rằng như thế có thể lấp liếm được thái độ khiếp nhược của mình. Bao nhiêu công trình đấu thầu xây dựng, phát triển đất nước đều để cho “kẻ lạ” kia trúng thầu. Rừng đầu nguồn cho “dân lạ” kia đến khai thác đến cạn kiệt tài nguyên quốc gia. Từ Bắc xuống Nam, “dân lạ”, “hàng lạ”, và “văn hóa lạ” kia tung hoàng. “Thanh niên lạ” tha hồ lấy vợ Việt, nhiều tên còn cưỡng hiếp dân làng, để đẻ con cho nhiều, hầu cấp chứng minh cho dân Việt biến thành “dân lạ” hết. Từ từ rồi giang sơn Tổ Quốc mình biến thành “đất lạ” dù vẫn mang tên “nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Trên một “blog” của một trí thức Việt sinh sống tại miền Bắc, đã có một bài viết rất cay đắng về sự xâm thực của Trung Cộng, được sự tiếp tay của chính Nhà Nước Cộng Sản có tiêu đề rầm rộ trên tất cả mọi văn bản: “Độc Lập –Tự Do – Hạnh Phúc” như sau:

“Người ta đưa nhiều lý do để biện minh cho việc khai thác bô xít, một nguyên nhân thuyết phục nhất là để phát triển kinh tế địa phương. Những người dân Tây Nguyên quanh năm sống trong nghèo khó, một sớm mai nghe tin có dự án, có việc làm, có cơ hội kinh doanh, dịch vụ…những cơ hội cải thiện đời sống được vẽ ra rạng ngời. Và hiện thực là tiền của đang đổ vào nơi họ sống. Dân nào mà chả muốn, nhất là dân nghèo. Họ đâu cần biết ngày mai, hay thế hệ sau hậu quả ra sao. Bởi vì họ không tính được đến mai sau cho nên họ là dân. Còn những người ra quyết sách lớn lao đó họ có tính được không ? Tôi nghĩ họ tính được bởi vì họ nói họ khôn ngoan hơn dân, có đạo đức hơn dân. Bởi thế dân đã tin tưởng chọn họ làm lãnh đạo để ra những quyết sách”

Vị trí thức kia còn khẳng định thêm về những quan niệm của dân chúng đối với việc Nhà Nước khiếp nhược trước kẻ thù:
“Môt số người nói rằng những hành vi đang bán nước. Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ. Lý do đưa ra vẫn muôn thưở – phát triển kinh tế khu vực. Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn. Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ ?

Có lẽ cụm từ ‘’ tư duy nhiệm kỳ’’ nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước’’.
Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp…để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm. Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách gì thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền.? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.
Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác.Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đât đai, tài nguyên., chủ quyền, văn hóa…..

Người ta lại có thể lý giải, nhiệm kỳ này cho thuê đất, khai thác tài nguyên để lấy vốn phát triển nội lực , sau này không phải bán hay cho thuê gì nữa. Vẫn là ngụy biện cho qua nhiệm kỳ thôi. Hạ tầng năng lực, chuyên môn, kiến thức, tư duy …con người như vậy thì tiền đổ vào thế chứ nữa cũng chỉ làm nháo nhào trương cái biển, dựng cái cổng, mua máy móc cũ vận hành loáng thoáng để chụp ảnh, quay phim lấy thành tích rồi bỏ đó, quản lý và phát triển được đâu. Cốt có lý do để mang tiền về rồi chia nhau tiêu, rồi có số liệu để nói kinh tế đang tăng trưởng….Việc này xảy ra nhan nhản ở khăp các địa phương.

Bao nhiêu tài nguyên đã ra đi để mong mỏi làm vốn liếng cho đất nước phát triển, một mỏ than Quảng Ninh mênh mông tưởng rằng vô tận. Thì ngày hôm nay điện tăng giá vì lý do than phải nhập từ Trung Quôc về giá lên. Cả một khu dầu mỏ Dung Quất, Vũng Tàu đầy tiềm năng, đầu tư không biết bao nhiêu mà giờ để xăng, dầu tăng giá với lý do nhập khẩu dầu thế giới tăng. Chúng ta khai thác tài nguyên lấy vốn để giờ chúng ta vượt xa Căm Pu Chia những 20 năm. Tự hào chăng ?
Giờ đang còn nhiều tài nguyên nữa đang và chuẩn bị ra đi để đổi lại cho đất nước, con người Viêt Nam này là gì ?”

Thật đau xót cho giang sơn mà Tổ Tiên ta đã gầy dựng hơn 4000 năm nay, với bao chiến công lẫy lừng trong sử sách thế giới. Trần Hưng Đạo đã được liệt kê vào danh sách các chiến tướng vĩ đại nhất trong Thế Giới Sử. Trần Thủ Độ với câu nói bất hủ: “Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy lấy đầu thần đi đã”.  Lý Thường Kiệt với bài thơ “Nam Quốc sơn hà, Nam Đế cư” cùng với công trình đánh đuổi quân Thanh của Hai Bà, của bà Triệu, của Quang Trung Nguyễn Huệ và hàng triệu triệu dân Việt nay sắp đi vào quên lãng bởi sự đê hèn của nhóm cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.
Nhưng với ý chí của những người dân Việt chân chính, chúng ta vẫn cầu xin Tổ Tiên gia hộ cho đất nước chúng ta có ngày thoát khỏi nạn cai trị của bọn cầm quyền khiếp nhược kia. Cầu xin cho chúng ta và con cháu không bao giờ phải nhìn quê hương mình như một miền “đất lạ” cai trị bởi một nhóm “người lạ”.
Cầu mong có ngày trở về hôn lên mảnh đất yêu quý ngàn năm kia, hôn lên từng khóm cây, ngọn cỏ, uống chút nước trong dòng sông quê hương, nghe những câu hát hò ngọt ngào len qua khóm trúc, và tận hưởng không khí trong lành của đồng ruộng xanh tươi cánh cò dào dạt….
Cầu xin cho ta được mãi mãi là người Việt Nam, máu đỏ da vàng, yêu quê hương như yêu hơi thở và trái tim của chính mình.