Saturday, April 21, 2012

CUỘC CHIẾN ĐẤU BI HÙNG

Đào Vũ Anh Hùng

Bài ca biệt ly của quân lực VNCH được diễn tả bằng những hành động, những trận đánh ngoạn mục của người lính VNCH trong trận thư hùng với các binh đoàn Cộng Sản lần cuối vào những giờ phút hấp hối của miền Nam. Đó là những trận đánh cực cùng dũng cảm, bi thương, hùng tráng và tuyệt vọng, trước sự chứng kiến của cả trăm ký giả, phóng viên ngoại quốc, những nhà ngoại giao, nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu quân sử ...

Đó là Thiên Anh Hùng Ca bất khuất của một quân lực trong suốt hơn hai mươi năm chống giữ và bảo vệ cái tiền đồn của thế giới tự do trước làn sóng xâm lăng cộng sản. Thiên anh hùng ca bất hủ đã được nhiều nhân chứng tôn vinh và ngưỡng phục. Sau cuộc tan hoang, miền Nam Viêt Nam bị mất về tay CS, nhiều người đã công khai nói lên lòng cảm phục cùng sự thương tiếc cho một quân lực hùng mạnh và quả cảm đã gánh chịu một kết thúc đau thương, ngập tràn uất hận.

Ký giả Peter Kahn của đại nhật báo The Wall Street Journal, dưới cái tựa
"Truy Điệu Nam Việt Nam" ngày 2-5-75, nghĩa là hai ngày sau khi Sài Gòn sụp đổ đã ngậm ngùi kết luận: "Nam Việt Nam đã chống cự hữu hiệu trong 25 năm và không phải họ luôn luôn được người Mỹ giúp đỡ. Tôi nghĩ không có quốc gia nào có thể chịu đựng được một cuộc chiến dai dẳng và tàn khốc đến như vậy .... Rốt cuộc quân lực ấy đã tài giỏi hơn sự ước lượng của mọi người.”

David Halberstam, một ký giả Mỹ đầy thiên lệch khi nhận định về chiến tranh Việt Nam, nhưng khi chứng kiến sự sụp đổ của miền Nam thì cũng phải phẫn nộ thú nhận trên tờ Newsweek,
" Tất cả những sự thất bại lịch sử và những sự hèn nhát tồi tệ của biết bao nhà lãnh đạo Tây phương đều chồng chất lên lưng những người lính Nam Việt Nam ... Thật là bất lương và bất công ! Sự nhục nhã là của chúng ta chứ KHÔNG PHẢI LÀ CỦA QUÂN ĐỘI VNCH !"

Hầu hết các phóng viên báo chí, các ký giả ngoại quốc trước đây từng công khai bênh vực và nghiêng hẳn về phe VC, đã phản tỉnh đã xám hối khi chứng kiến cuộc kháng cự dũng mãnh, hào hùng và bi thảm của những đơn vị quân đội ở lại chiến đấu cho đến người lính cuối cùng, đến giọt máu cuối cùng. Piere Darcourt đã nồng nhiệt ca tụng lòng dũng cảm của quân lực VNCH ở Xuân Lộc, của một đơn vị Nhảy Dù ở Lăng Cha Cả, của anh em Biệt Kích 81 ở Bộ Tổng Tham Mưu và dành sẵn một đoạn dài mô tả cuộc chống trả hiên ngang của các Sinh Viên trường Võ Bị Đà Lạt trên các đường phố Sài Gòn. Người ta đã nói rất nhiều đến những tấm gương tuẫn tiết của các vị Tướng anh hùng, những cuộc tự sát tập thể của những người lính vô danh VNCH không chịu đầu hàng kẻ thù, nói đến những kỳ tích chiến đấu của những đơn vị Quân Lực miền Nam.

Một trong những trận đánh anh hùng ấy đã làm mủi lòng biết bao nhiêu người, đã gây xúc động biết bao nhiêu con tim. Những giòng nước mắt đã dàn dụa đổ xuống khi chứng kiến cuộc chống trả tuyệt vời và ngoạn mục có thể nói trên thế giới, không một quân sử nước nào có thể có được.
Đó là cuộc chống trả của các THIẾU SINH QUÂN ở Vũng Tàu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong Thị Xã.Vũng Tàu coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân. Ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13 .... đến 17 tự lập phòng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sỹ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường.



Địch đã tung hai tiểu đoàn xung kích bao vây cứ điểm cuối cùng này nhưng chúng đã gặp phải một lực lượng vũ trang đáng kể hiên ngang đương đầu với chúng. Cộng sản đã coi thường những chú lính sữa chưa bao giờ biết mùi trận mạc. Chúng bắt loa kêu gọi các em đầu hàng và buông lời hăm doạ ... Tiếng loa vừa dứt, Viêt Cộng nhận ngay một tràng đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 700 tay súng tí hon. Tiếp theo là hàng trăm mũi súng nhắm thẳng vào bọn VC bên ngoài, phẫn nộ lảy cò. Vài tên Bộ Đội bị đốn ngã ngay trong loạt đạn đầu tiên.
Bọn Viêt Cộng phải đứng khựng lại trước tinh thần quyết tử cuả 700 hậu duệ anh hùng Trần Quốc Toản. Chúng không giám tấn công ngay vì các em quá nhỏ và vì có sự hiện diện của đồng bào.
Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9:30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư.

Mặc VC kêu gọi và đe doạ, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm lũy phòng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hoả .... Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đã được giảng dậy ở quân trường.
Đúng 9:30 sáng ngày 30-4. Cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sỹ tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn. VC nổi cơn khát máu. Chúng khai hoả, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức dội ngược lại, không ngờ sức chống cự quá mãnh liệt và hoả lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào những bia sống, những cái bia người "SINH BẮC TỬ NAM". Các em chưa bao giờ được bắn, nay đã bắn với tất cả căm thù, mong dành lại những gì sắp bị cướp mất.

Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp, trong khi bộ đội VC lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và Quân Nhân vỡ ngũ bên ngoài hào hứng và kích động, tìm cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu bọn bộ đội khiến chúng nao núng và hốt hoảng.

VC đã bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua được lưới đạn của các chiến sỹ nhỏ tuổi nhưng can trường. Các em đã chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và KỶ LUẬT như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến nhà nghề.
Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em còn đang giở khoá học. Trận đánh QUYẾT TỬ đã đi vào lịch sử. Các Thiếu Sinh Quân đã chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục. Những đứa con bé bỏng của quê hương đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã oà lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội để che chở cho những thiếu niên ở bên trong.
Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của VC đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy .... Các Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả nhiệt tình và sinh lực của tuổi trẻ hăng say hào hứng như đang tham dự một trò chơi lớn.

Cuộc chống cự kéo dài đến 3:00 chiều. Cho đến khi kho đạn dược đã cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng lòng cho VC thương thảo. Họ đòi hỏi VC chấp nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng ...
Và các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đã gục ngã, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Họ KHÔNG ĐỂ CHO BỌN CS làm nhục lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ, lá cờ biểu tượng thiêng liêng gói ủ hồn dân tộc mà họ đã thề nguyền PHẢI THƯƠNG YÊU và BẢO VỆ.

Có chừng hơn một Trung Đội TSQ đã tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nhìn lên lá Quốc Kỳ còn nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền mây ngọc bích. Hai TSQ lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào. Họ từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài giây phút thiêng liêng cảm động này, nước mắt đầm đìa.

Tất cả TSQ từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà...., không ai bảo ai, đồng loạt đứng bật dậy đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca.
Gần 700 giọng hát hùng tráng cát lên, vang khắp sân trường. Bọn bộ đội nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang đến tận bến Dâu, bến Đình............ Mọi người dân Vũng Tàu đã đều nghe và rung động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng ngẩn ngơ rớm lệ theo tiếng hát.
Các Thiếu Sinh Quân đã làm lễ mai táng đất nước, đã TRANG NGHIÊM RỬA SẠCH tấm bia DANH DỰ của Quân Đội VNCH, đã vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua lễ hạ kỳ lần cuối chỉ một không hai này. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, với những nghẹn ngào cùng dàn dụa của nước mắt. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo.


Thời gian như ngưng đọng lại trong giờ khắc thiêng liêng và bi thảm, xúc động cùng lẫm liệt đó.
Cho đến bây giờ, 22 năm sau, nhiều người vẫn nghe văng vẳng trong sâu kín của buồng tim đã thắt nghẹn, tiếng bi thương hung tráng của các Thiếu Sinh Quân hát bài Quốc Ca trên đất nước, trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen, ngày oan khiên định mệnh cho dân tộc Việt .

Đào Vũ Anh Hùng


Friday, April 20, 2012

Huyền sử Thiếu Sinh Quân !

(Bài viết từ năm 1995)

Tuần qua, Bao Bất Đồng do cơ trời bỗng được tái ngộ với người anh em của thuở ba mươi mấy năm về trước. Anh có tên cúng cơm là Phạm Văn Hợp. Xưa, đã từng là lính trinh sát của sư đoàn 9. Xưa, đã từng là chiến sĩ đề-lô của binh chủng Dù.
Kẻ đã theo Đường Sơn Đại Huynh Trung-tá Nguyễn Chí Hiếu đánh một trận đáng đồng tiền bát gạo ở Dakto Tân Cảnh năm Mùa Hè Đỏ Lửa.
Kẻ đã theo con Mãnh Long Quá Giang Trung-tá Nguyễn Văn Đỉnh đánh một trận kinh thiên ở An Lộc năm chiến sử 1972, và cũng đã theo thủ lãnh đại ca Thiếu-tá Trương Đăng Sĩ đánh một trận vỡ trời ở Quảng Trị Thừa Thiên năm tái chiếm Cổ Thành. Nay, là thủ quỹ của gia đình Thiếu Sinh Quân của tiểu bang Victoria (Úc). Giờ, xuân xanh tuy đã 46 mà xem ra chí cung tên vẫn còn hừng hực.

Hợp hỏi :
- Huynh cũng là một trong những tay viết phóng sự chiến trường, vậy chứ, thời
   Quốc gia, trường quân sự nào được coi là thâm niêm lão làng nhất ?
- Là trường Thiếu Sinh Quân.
- Đúng. Nó có mặt trên đất nước Việt Nam ngay từ thuở vua Bảo Đại còn ở truồng, lúc tướng Nguyễn Văn Thiệu còn ôm vú mẹ.
- Đáng nể, đáng nể !
- Phải, rất đáng nể. Cũng xin hỏi, trong các lò luyện thép, lò nào đào tạo ra nhiều tướng lãnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhất ?
- Là lò... Thủ Đức, lò... Đà Lạt, lò... Nha Trang !
- Còn không ?
- Hết rồị
- Hết cái mả bố nhà huynh. Còn lò Thiếu Sinh Quân nữa. Huynh còn nhớ vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên của Quân Lực VNCH là ai không ?
- Là... Đại-Tướng Lê Văn Tỵ.
- Đúng. Tướng Tỵ xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân. Ngoài ông, còn có các tướng Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Là, Nguyễn Viết Thanh, Phan Trọng Chinh, Trương Quang Ân, Trương Dềnh Quay, Lý Tòng Bá, v.v...

- Hách thật !
- Cám ơn. Bây giờ là tháng Tư, tháng Tư đen, tháng Tư máu, tháng Tư khổ hình. Cũng xin hỏi huynh cách đây 20 năm, đơn vị nào đánh đến giờ thứ 25 của cuộc chiến ?
Bao mỗ đáp :
- Là Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù.
- Trúng phóc. Nhưng không phải chỉ có Biệt Kích Dù, mà còn nhiều đơn vị khác tỷ
  như trường Thiếu Sinh Quân, Vũng Tàu.



- Trường Thiếu Sinh Quân ?
- Phải. Đêm 29 tháng 4, sau khi chiếm hết các vị trí trọng yếu trong thị xã, địch tung hai tiểu đoàn xung kích bao vây trường Thiếu Sinh Quân, cứ điểm cuối cùng vẫn còn tử thủ. Thoạt đầu, giặc bắt loa kêu gọi đầu hàng, nhưng bên trong đáp lại bằng những loạt đạn của gần 700 tay súng.
- 700 chiến sĩ ?
- Y chang. Nhưng là những chiến sĩ nhóc, những chiến sĩ nhỏ nhất nước, những thiên thần tí hon của tuổi 12, 13, 14, 15, 16, 17. Họ đã đánh một trận hiển hách nhất trong quân sử, đã dạy cho cộng sản bắc quân biết thế nào là khí phách của tuổi trẻ Miền Nam.
Bao Bất Đồng thấy khí huyết bắt đầu nhộn nhạo :
- Số một, số một ! Vậy chắc là những dũng sĩ thời đại chỉ chịu kéo cờ trắng khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh buông vũ khí ?
- Không ! Dương Văn Minh chả là cái chó gì đối với các cậu bé. Lệnh đầu hàng là 9giờ30 sáng, còn họ thì vẫn chơi tay đôi với cộng quân mãi tới 3giờ chiều, khi mà kho đạn dược đã cạn, khi mà kho lương thực đã bốc cháy...
- Đáng phục, đáng phục !
- Còn đáng phục hơn nữa là... trước lúc mở cửa thành, họ còn bắt đối phương phải chấp nhận một giờ ngưng bắn !
- Ngưng bắn ???
- Là quân bên nào nằm nguyên ở bên đó.
- Để làm gì ?
- Để cho các Thiếu Sinh Quân làm lễ... hạ kỳ.
Họ không muốn kẻ thù làm nhục lá cờ vàng ba sọc đỏ !
Bao Bất Đồng vỗ đùi đánh đét một cái :
- Có chí khí, có chí khí ! Thế mấy thằng Vẹm có chịu không ?
- Không chịu cũng chẳng được. Bởi, nếu ngoan cố kiểu lão già hồ, thì các Thiếu Sinh Quân sẽ chiến đấu tới giọt máu cuối cùng. 700 người nằm xuống thì cũng phải 1,400 tên Vẹm đi đời. Vì vậy mà chúng nó đành ngậm bồ hòn.
- Xuất sắc ! Xuất sắc !
- Sau đó là một hoạt cảnh rất là bi hùng, rất là bi tráng và cũng rất là cảm động. Hai Thiếu Sinh Quân lớp 12 là Nguyễn Văn Minh tự Minh Xe Be, và Nguyễn Văn Chung tự Chung Moi, đã tiến ra trước sân cỏ, đã đứng nghiêm trước cột cờ, và đúng theo lễ nghi quân cách, họ giơ tay chào, họ từ từ kéo từng nấc giây, trong khi đó, các Thiếu Sinh Quân từ trong các từng lầu, từ trong các hố cá nhân, từ trong các giao thông hào, không ai bảo ai, tự nhiên đứng bật dậy và đồng thanh hát bản quốc ca
- Đẹp quá ! Đẹp quá ! - Phải, đẹp lắm.

Tiếng hát vang ra khắp sân trường, tiếng hát lan ra cả tuyến địch, tiếng hát bay lên hòn núi lớn, tiếng hát bay ra tận Bãi Dâu, tiếng hát tỏa ra cả Bến Đình. Dân nghe, quân nghe, ta nghe, việt cộng nghe và cả trời đất cũng nghe.
- Hoan hô những người lính nhóc.
- Thân nhóc tì nhưng đởm lược lớn, nhưng dũng khí có thừa.
Thế nên, tuy đã hai thập niên mà đồng bào ở Vũng Tàu trong lúc trà dư tửu hậu vẫn thường nhắc lại cái huyền thoại bất hủ của những chàng trai trẻ Thiếu Sinh Quân năm nào. Có người gọi họ là những Trần Quốc Toản tái sinh, là một bầy sư tử lãng mạn...
Hợp bùi ngùi :
- Cổ nhân có câu "giang san như tạc anh hùng thệ", nghĩa là "đất nưóc còn đó mà hào kiệt đâu rồi". Hỡi ơi, cái bầy sư tử lãng mạn của thời xưa oanh liệt ấy, giờ không biết ai còn ai mất ? Hiện ở Victoria chỉ có 2 người, một là Nguyễn Minh Tuấn, Gia Đình Trưởng, hai là Phạm Hữu Đồng, Gia Đình Phó Thiếu Sinh Quân.
Nói xong, Hợp nước mắt rưng rưng, ngâm bài thơ của Thiếu Sinh Quân Nguyễn Văn Tao :

Năm mười hai tuổi ta vào lính
Ôm cả tuổi xanh lẫn mộng đời
Cứ tưởng mình là Trần Quốc Toản
Ta cầm gươm gọi Việt Nam ơi !
Năm mười tám giã từ trường mẹ
Mặc áo rằn ri đội nón nâu
Dẫn lính tung hoành trăm trận thắng
Đi vào đất địch giữa mưa ngâụ
Năm hăm bốn đời chưa thấy lớn
Mà ôi sao áo trận bạc mầu
Ta dẫn binh về nơi Tân Cảnh
Để rồi ngã ngựa dưới chân cầụ
Ta bốn bốn giã từ vũ khí
Nốc men cay mà hận nước non
Cũng may đời ta còn có bạn
Còn có em - một tấm lòng son !
Thôi thì bằng hữu, thôi thì em,
Ráng cùng ta đi trọn đường mòn.
Thiếu Sinh Quân ! Các anh đã đi vào huyền sử !

Bao Bất Đồng

THƯ GỬI BẠN TA

Ngày 16 tháng 4 năm 2012
Bạn ta,
Linus, cậu nhỏ em của Lucy Van Pelt, bạn thân của Charlie Brown là một nhân vật trong loạt truyện bằng tranh Peanuts của Charles M. Schulz.
Linus yêu cô giáo, cô Othmar, của chú vô cùng.
Linus có lần nói rằng chú không bao giờ nói rằng chú tôn thờ cô Othmar, chú chỉ nói rằng chú yêu cái chỗ đất mà cô đi bộ và đặt chân lên. I’ve never said I worship her. I just said I’m very fond of the ground on which she walks!

Kể nói như vậy là yêu quá đi mất rồi. Chắc Linus học được của một câu người Việt hay nói: "Yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai, ghét cả tông chi họ hàng."
Yêu thì con đường người ấy đặt chân lên cũng yêu. Ghét mà thấy "nó" đi trên đoạn đường ấy thì lấy cuốc, lấy xẻng đào lên, đổ đi ra chỗ khác để khỏi bẩn chân. "Ghét như đào đất đổ đi" là như vậy.

Nhưng yêu con đường có dấu chân người đặt xuống thì chắc đã nhiều người làm. Chẳng phải chỉ riêng có Linus biết làm việc đó. Con đường có vết chân người yêu dấu đặt lên thì hình như cỏ xanh hơn, hoa thơm hơn như nhiều người đã quả quyết.
Bất kể trên con đường ấy, đã vài ba chục con chó để lại dấu tích trong những chuyến đi lăng quăng của chúng. Thế nên yêu thì yêu vậy thôi chứ cái thảm cỏ đầy kỷ niệm của lũ chó mất dậy để lại như những con đường của thủ đô Paris thì có can đảm lắm cũng không dám lăn xuống cỏ mà ngâm nga "…ta thèm một chút hương man dại / và ngủ như loài muông thú kia…" như mấy câu nghe rất dại dột của ông Đinh Hùng đã viết trong Đường Vào Tình Sử.

Mấy con chó mất dậy đã ghé lại thì cho dù bước chân của người yêu bé bỏng có đi vài ba lần đi qua thì cũng đành im lặng thở dài mà tạm quên đi thôi.
Vậy nên có cậu thi sĩ ngớ ngẩn nào nhờ làm giùm một việc là cúi xuống hôn hộ cậu cái khúc đường ấy thì nên xắn tay áo lên chửi cho cậu một trận nhớ đời mới phải:

"…Hôn giùm anh nền đá lát công trường
Nơi yêu dấu Lê Nin từng dạo bước
…"

Nền đá lát ở Matxcơva đã bao nhiêu mùa mưa nắng, đã bao nhiêu bãi cứt chó nằm trơ gan cùng tuế nguyệt, rồi lại mấy em phu lục lộ béo quay, béo xưng béo xỉa trông nhan sắc cứ như em Nina Khruschev quơ những nhát chổi lên rồi mà còn nham nhở nhờ cúi xuống hôn một cái thì thối biết là chừng nào.
Phải chửi cho cái nhà anh thối tha ấy một trận là ít, nếu không thì phải bóp cổ cho cái đứa bệnh hoạn kia lè lưỡi ra mới phải.
Tỉnh táo thì phải như vậy. Nhưng rất có thể, đã có nhiều đứa cúi xuống hôn những viên đá lát ở một cái công trường nào đó nơi cậu Liên Xô lạ hoắc nọ từng lê gót giầy ở trên.
Trò ngu xuẩn tương tự đó mới đây đã được thấy ở Hà Nội. Một số thanh niên Hà thành đã quì xuống, hít lấy hít để cái ghế mà Bi Rain, một ca sĩ Nam Hàn đã ngồi lên trong một chuyến trình diễn ở Hà Nội hôm tháng 3 vừa qua.

Tôi lục tìm hết trí nhớ thì chưa hề thấy cảnh đó ở Việt Nam trước năm 1975 bao giờ. Thế hệ của ông cụ tôi thì có thích Tino Rossi, Maurice Chevalier … thật. Nhưng các cụ bầy tỏ lòng hâm mộ một cách thầm lặng chứ đâu có bao giờ làm chuyện mất nhân phẩm như thế.
Thế hệ của chúng ta, có người yêu James Dean, Elvis Presley, Beatles cũng thế. Ngồi nghe những ban nhạc, những giọng ca này trình diễn vẫn bằng những cách rất nghiêm túc.
Lũ con tôi lớn lên ở Mỹ cũng không đứa nào nghe nhạc mà lăn lộn như … Mỹ.

Thế thì tại sao lại có cảnh hôn hít cái ghế mà một người đàn ông Đại Hàn vừa đặt đít lên?


Hay đó là cách hành xử của những người đã quen với cái lối bầy tỏ sự tôn thờ, sùng thượng mà họ đã thường nhìn thấy những người lớn của họ đã làm?
Thương xót thì phải gấp mười lần lòng yêu mến dành cho cha mẹ. Tiếc nhớ thì phải "…đau đòi đoạn, ngất đòi cơn…" như người dân Bắc Triều Tiên khóc Kim Nhật Thành, rồi Kim Chính Nhật. Khóc không to thì chỉ có chết đòn.

Trong cái lối bầy tỏ xúc động thối tha như thế thì cúi xuống hôn cái ghế còn nóng hôi hổi hơi … đít của Bi Rain là chuyện có thể hiểu được.
Cha chú của chúng nó ôm đít của mấy anh Liên Xô, Trung Cộng thế nào, thì nay, chúng làm như thế chứ có gì lạ đâu.

Nhưng đợi xem mấy con chó dại ở Hà Nội chết đi thì bọn dòi bọ khóc lóc ra sao.

Bùi Bảo Trúc


Wednesday, April 4, 2012

Một góc nhìn khác cho việc… hôn ghế của “Bi Rain” tại Hà Nội

Liều thuốc tự do

Submitted by Trưởng Biên Tập on Tue, 04/03/2012 - 00:00
NhọTác giả gửi đến Dân Luận

Trong đêm lưu diễn ở Hà Nội của Bi Rain (ca sĩ Hàn Quốc), một số fan Việt quì xuống để ngửi và hôn hít chiếc ghế mà thần tượng của mình vừa ngồi.

Thông tin này lập tức gây sóng gió trong cộng đồng mạng Việt Nam sau khi lan truyền trên Facebook. Hầu hết báo giới thể hiện sự bất bình, và nhiều người nói về một nỗi nhục dân tộc. Người ta giật tít: "choáng", "sock", "quá trớn", "crazy"... Nhiều trí thức than vãn về sự suy đồi các giá trị tinh thần. Và khi những xúc động đã tạm lắng đi, một số blogger viết bài lí giải. Tôi thấy khá nhiều lí do đã được đề cập. Chẳng hạn: sự tồi dở của nền giáo dục, sự thui chột của nền nghệ thuật Việt Nam, sự xuống cấp của đạo đức và phẩm giá con người...

Nhìn chung, hầu hết các nhà bình luận tin rằng tuổi trẻ Việt Nam ngày càng mất nết.

Nhưng kết luận ấy, theo tôi, hơi có chút vội vàng và nóng nảy. Thanh niên Việt quả thực kém cỏi so với bạn đồng lứa bốn phương. Nhưng là một sinh viên, mà nhờ công việc nhóm, có khá nhiều trải nghiệm về sự chuyển biến tâm lí qua các thế hệ, tôi vẫn khá lạc quan về triển vọng của lớp người mà mình thuộc về.

Vậy trong cuộc thảo luận sôi nổi về thực trạng của tuổi trẻ Việt Nam, xin góp cho diễn đàn một cái nhìn của người trẻ.

Thực ra, tôi nghĩ vấn nạn bao trùm sự vụ này không phải là sự sùng bái văn hóa Hàn Quốc. Nguyên nhân cốt lõi, nhưng chưa thấy được đề cập, là cái quì gối trong văn hóa Việt Nam.

Nếu bạn chưa đồng ý, ta hãy cùng nhìn rõ bằng óc tưởng tượng của mình.
Giả sử, khi vẽ tranh, bạn giữ nguyên tư thế quì lạy và hôn ghế. Bạn thay thần tượng Bi Rain bằng thần tượng Khổng Tử. Rồi thay văn hóa Hàn Quốc bằng văn hóa Trung Hoa.
Làm thế, vụ "hôn ghế thần tượng" đình đám sẽ không còn là bức tranh về một thế hệ trẻ mất gốc và suy đồi.
Thay vào đó, ngạc nhiên chưa ! Sẽ là bức tranh chuẩn mực về đạo Thánh hiền của các Nho sĩ.

Vậy có thanh niên Việt mất gốc không nhỉ :) ?

Chúng ta chướng mắt khi giới trẻ Việt quì xuống hôn ghế một thần tượng âm nhạc nước ngoài. Nhưng hãy nhìn cái quì suốt dòng lịch sử của các thế hệ đi trước. Suốt hai thiên niên kỉ, người Việt quì mọp ngoan ngoãn dưới cái ghế của các vua quan. Hăng hái dẫn đầu truyền thống này là giới sĩ phu - tầng lớp được xem như khối óc của cả nước.

Và so với thế hệ trẻ hôm nay, các nhà Nho vượt xa về độ vọng ngoại. Giới trẻ Việt Nam không đặt tượng Bi Rain lên bàn thờ, không xem anh như nguồn chân lí duy nhất đúng, và cũng không tôn anh này là "bậc Thánh nhân". Họ không gọi tiếng Hàn Quốc là "chữ thánh hiền". Họ cũng không đề nghị sử dụng tiếng Hàn Quốc, thay vì tiếng Việt, làm ngôn ngữ chính thức để giảng dạy trong mọi cấp học. Họ không chủ trương một nước Việt Nam mà mọi bài thơ, mọi bộ luật, và mọi văn bản hành chính đều được soạn thảo bằng tiếng Hàn Quốc. Họ không học lịch sử Hàn Quốc thay vì sử Việt Nam.
Nhưng với văn hóa Trung Quốc, giới Nho sĩ - mà một thời được cả xã hội tôn vinh như hình mẫu lí tưởng để theo đuổi - đã thể hiện thái độ thế nào ?

Tìm một tấm gương tốt cho thanh niên Việt Nam, xem ra, khó lắm !

Nếu bạn phản đối việc so đám trẻ trâu với các cụ đồ đạo mạo, ta hãy thử tìm một sự liên tưởng gần gũi hơn. Hãy quay cuộn phim lùi về 50 năm trước. Tưởng tượng hồi thập niên 1960, cũng trên đất Hà Nội này, "...một số cháu thiếu niên cúi xuống, nhẹ nhàng hôn lên chiếc ghế mà Bác đã ngồi với niềm kính yêu vô hạn dành cho người cha già của toàn dân tộc...".

À, vậy thì các cháu cũng sẽ lên báo Nhi Đồng, báo Tiền Phong, báo Tuổi Trẻ, báo Thanh Niên... Nhưng không phải cùng các cụm từ "crazy", "choáng", "quá trớn"... , mà là trong các bài viết tuyên dương "những hạt giống đỏ", "những mầm non Cách mạng", "những ngọn cờ hồng"...

Trong chương trình học của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, người ta nhắc đến bao nhiêu "ngọn cờ hồng" như thế. Và người ta giảng dạy, tuyên truyền, chỉ để tạo ra thêm những "ngọn cờ" cũng y như thế. Ôi, những tấm gương...!

Và hãy nhìn lại tư thế khúm núm, xum xoe, khăm khẳm mùi nịnh bợ mà đại thi hào Tố Hữu - Nguyên Ủy viên bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban chấp hành Trung ương - đã dành cho cái ghế quyền lực dưới mông hai thần tượng của mình:

"Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Xít-ta-lin bên cạnh nhi đồng
Áo Ông trắng giữa mây hồng
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười
Xít-ta-lin! Xít-ta-lin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin!
Hôm qua loa gọi ngoài đồng
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ông đã... làm sao, mất rồi!
Ông Xít-ta-lin ơi, Ông Xít-ta-lin ơi!
Hỡi ơi, Ông mất! Đất trời còn không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng
Thương mình thương một, thương Ông thương mười!"

Tư thế đẹp đẽ ấy còn được lột tả chân thực hơn nữa qua 5 câu thơ:

"Giết! Giết nữa! Bàn tay không ngơi nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu
Cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Xít-ta-lin bất diệt!"

Nhưng Mao Chủ tịch và "Shít-ta-lin bất diệt" mà Tố Hữu... thờ, và đề nghị toàn Đảng, toàn dân "rập bước chung lòng" cùng... thờ, hai vị ấy là ai ?

Những bạn chưa biết câu trả lời, xin Google các cụm từ "Mao Trạch Đông", "Stalin", "độc tài", "tàn sát"... Cả hai là những bạo chúa bị nhân loại lên án vì phạm tội ác diệt chủng. Cả hai đã sát hại hàng triệu sinh mạng - mà một phần lớn thuộc tầng lớp tinh hoa của dân tộc - trong các cuộc thanh trừng phi nhân tính để củng cố quyền lực của bản thân. Đấy ! Hai "mặt trời chân lí" mọc đằng Bắc, mà ông Tố Hữu dạy ông bà, cha mẹ chúng tôi phải thương hơn cha, hơn mẹ, hơn chồng mình đấy !

Dầu vậy, Tố Hữu không làm báo giới phiền lòng, và chính giới thì lại càng không. Ông không "suy đồi các giá trị tinh thần", không "vong bản", không "mất gốc". Người ta mời ông làm Ủy viên bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bí thư Ban chấp hành Trung ương. Người ta trao ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, đợt thứ nhất. Người ta để ông dạy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xúm xuýt "thờ" các thần tượng - trong cương vị Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng Ban Thống nhất Trung ương, Trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương, Trưởng Ban Khoa giáo Trung ương. Ngày nay, thơ ông chiếm phần quan trọng trong chương trình học môn Ngữ Văn của mọi cấp. Sách giáo khoa mô tả ông như một nhà thơ lớn, và một nhân cách lớn của dân tộc. Sự nghiệp của Tố Hữu quả là một tấm gương sáng cho các cháu nhi đồng và thanh thiếu niên !

Tôi còn định nêu thêm vài ví dụ nữa về một người Việt Nam sùng bái thần tượng ngoại quốc đến mê cuồng. Vị này, vì hôn ghế "ba ông kia kìa" một cách say sưa, mà làm dân tộc ông mất 4 triệu mạng người, và nước ông lỡ mất một thế kỷ. Ngày nay, vị này được báo chí mô tả như một nhà tư tưởng vĩ đại và một tấm gương đạo đức lớn. Người ta đang phát động một chiến dịch rầm rộ và siêu tốn kém để giục cả nước học tập và làm theo tấm gương đạo đức của ông. Nếu có ai đó mà thế hệ của tôi - theo lệnh "trên" - buộc phải lấy làm khuôn vàng thước ngọc mà bắt chước, thì trăm phần trăm đó là ông này. Nhưng thôi, không nhắc đến tên ông ta làm gì, mất vui lắm :-)

Tới đây, có lẽ vấn đề đã sáng tỏ. Tư thế quì lạy và hôn ghế thần tượng chẳng phải đặc sản của thế hệ chúng tôi. Ta thấy nó hiện diện rộng khắp ở mọi thế hệ người Việt mình. Và phải nói rằng đến thế hệ của tôi, chứng bệnh kinh niên này đã nhiều lần thuyên giảm.

Vậy xin đừng cố mò mẫm chẩn bệnh cho riêng một thế hệ nữa. Tìm sao được, khi căn bệnh ấy cũng làm tổ trong não bộ của chính những nhà báo hăm hở lên án vụ hôn ghế Bi Rain ? Và khi những khuôn vàng thước ngọc để thanh niên Việt Nam học hỏi lại là những con bệnh nặng nhất, thì biết chữa bằng cách nào ?

Chúng ta cần một liều thuốc cho cả nước.

Tư thế nô lệ đến từ tâm thế nô lệ. Có cùng một triệu chứng nơi các Nho sĩ Việt, đại thi hào Tố Hữu, và ông cụ mà tôi không nêu tên được, và các bạn trẻ vừa xì xụp hôn hít ghế Bi Rain. Họ thiếu tự trọng, và chịu sự lệ thuộc tinh thần.

Mà chỉ những con người tự do mới có sự tự trọng vẹn nguyên và đúng nghĩa.
Lúc này còn chưa quá muộn. Tuổi trẻ Việt chỉ mới quì lạy và hôn ghế một ngôi sao vô hại của xứ Kim Chi. Chưa đến ngày mà họ, một lần nữa, sụp lạy dưới những "mặt trời chân lí" vẽ bằng máu đỏ trên tấm da vàng.

Chưa quá muộn, để kê đơn chữa bệnh "trẻ con" cho đất nước.
Liều thuốc chúng ta cần là một văn hóa tự do, bắt nguồn từ một môi trường tự do và tôn trọng. Kê liều thuốc này, trước hết, phải là các bậc cha mẹ, các nhà giáo, và người trí thức Việt Nam.
Nhọ
1/4/2012
Nguồn: Dân Luận



Tuesday, April 3, 2012

Vì sao người trẻ quỳ xuống và...hôn ghế thần tượng?

Thu, 03/29/2012 - 19:36
 Song Chi

Cái tựa của bài này là từ cái tựa bài viết trên báo Tuổi Trẻ: “Khi người trẻ quỳ xuống và hôn ghế…”.
Bài viết trên báo Tuổi Trẻ có đoạn:
 “Hôm qua 10g có chạy chương trình mà chú Bi Rain gì đó (không biết gõ đúng không nhỉ) và bậu xậu của chú ta sang diễn. Bi ngồi cùng cậu nữa ghế A12, A14 trong Nhà hát lớn. Một số cô cậu nhòm thấy. Tối biểu diễn, nhiều quý nữ có vé mời vào rất sớm, xúm nhau cúi xuống ngửi, hôn cái ghế Bi ngồi”...
…có thể yêu quý và hâm mộ, có thể nhịn ăn xếp hàng mua vé, có thể chen lấn xin chữ ký, có thể làm mình làm mẩy với cha mẹ để xin được tiền mua chiếc vé cắt cổ, có thể nhuộm tóc xanh, tô môi tím và mặc áo khoác giữa mùa hè nhiệt đới cho giống thần tượng...” Nhưng đến mức - dù là chỉ vài người trẻ - xúm xít vào hôn cái ghế Bi ngồi thì...”


Sự cuồng nhiệt của khán giả trẻ VN trong chương trình giao lưu văn hóa
Việt - Hàn ngày 15-3 tại Hà Nội

Đọc xong, tôi không còn biết phải nói gì. Vì “sốc”. Không phải tôi không biết một bộ phận giới trẻ VN từ lâu nay rất mê phim Hàn quốc, mê K-Pop, mê các ngôi sao ca nhạc, diễn viên Hàn, từ đó mê thời trang, nghệ thuật trang điểm, hàng hóa Hàn, bắt chước cách ăn mặc, trang điểm của các thần tượng trong giới showbiz Hàn…

Thật ra không chỉ riêng VN, trong vòng hai, ba thập niên qua, một số quốc gia châu Á khác cũng từng bị cơn lốc phim Hàn, nhạc Hàn làm cho chao đảo. Nói cho chính xác, khu vực Đông Á chịu ảnh hưởng rõ hơn các quốc gia thuộc khu vực Nam Á như Ấn độ, Pakistan, Nepal…hay vùng Trung Đông, bởi vì văn hóa của các khu vực này khác hẳn. Cơn lốc văn hóa Hàn gần đây còn lan rộng cả đến Bắc Mỹ, châu Mỹ Latinh, châu Âu và cả Bắc Phi.
Đối với riêng từng quốc gia, sự say mê đó lan tỏa rộng hay hẹp, lâu hay mau, mức độ “cuồng si” như thế nào…trong giới trẻ, cũng rất khác nhau, tùy theo nhiều yếu tố: giáo dục, gia đình và xã hội.

Với những quốc gia có một nền giáo dục tốt ngay từ bậc phổ thông, học sinh sẽ có được một kiến thức khá rộng, cả về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, có được một gu thưởng thức thẩm mỹ tốt, phong phú. Từ đó giới trẻ sẽ có nhiều xu hướng đam mê hơn là đa số chỉ lao vào say mê một dòng phim, một dòng nhạc nào đó. Chẳng hạn như giới trẻ các nước Âu- Mỹ, ngay từ khi đang học tiểu học cho đến những năm tháng của bậc trung học phổ thông, các em đã được nghe nhạc giao hưởng, nhạc cổ điển cho đến các thể loại âm nhạc khác nhau; các em đã được học về lịch sử hội họa thế giới, được đi xem bảo tàng, xem những cuộc triển lãm hội họa cổ điển và hiện đại, kể cả những buổi trình diễn nghệ thuật sắp đặt, performing art…; được đọc đủ loại văn học cổ điển vả hiện đại của những tác giả lừng danh trên thế giới, đi xem nhạc kịch opera, múa ballet; còn phim ảnh thì ngay trên truyền hình hàng ngày đã có đủ loại phim của các nước để lựa chọn. Từ đó các em sớm có kiến thức, trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật khá vững, và có nhiều sự lựa chọn tùy theo ý thích.

Tin rằng trong những quốc gia như vậy, con số giới trẻ mê phim Hàn nhạc Hàn sẽ không phải là quá nhiều và nếu có, cũng không quá “cuồng si” bởi các em có đủ kiến thức để nhận ra cái dở bên cạnh cái hay của phim Hàn, nhạc Hàn.

Thứ hai, yếu tố xã hội cũng rất quan trọng. Muốn ngăn chặn ảnh hưởng về văn hóa của nước khác xâm nhập vào nước mình, không phải bằng cách đóng cửa từ chối mọi luồng văn hóa từ bên ngoài, mà cái chính là phải tạo ra cái của mình.
Muốn cho giới trẻ không mê đắm từ thần tượng diễn viên, ca nhạc cho đến thời trang, mỹ phẩm, hàng hóa của nước khác, thì phải có thần tượng, xu hướng thời trang, sản phẩm hàng hóa của nước mình.
Ví dụ như giới trẻ Nhật Bản cũng có những bạn thích phim Hàn, nhạc Hàn, nhưng bên cạnh đó, họ có những cái của họ-phim, nhạc, thời trang cho đến các mặt hàng xa xỉ phẩm, đồ chơi, hàng tiêu dùng…dành cho lứa tuổi teen của Nhật cực kỳ phong phú, đa dạng. Có thể nói, về độ phong phú, sáng tạo, quái lạ…còn hơn Hàn Quốc. Thế thì đâu có sợ gì chuyện đa số giới trẻ Nhật sẽ mê đắm phim, nhạc, thần tượng hay hàng hóa của Hàn Quốc?

Ngoài yếu tố giáo dục, nhà trường, xã hội…nếu trong gia đình có những cách định hướng tốt, cho con được xem/nghe/đọc nhiều dòng văn hóa nghệ thuật khác nhau từ nhỏ để có một kiến thức, trình độ, gu thưởng thức văn hóa tốt, phong phú; giáo dục cho con có những mục đích sống và niềm say mê khác hơn là chỉ mê phim Hàn nhạc Hàn; giáo dục cho con có lòng tự trọng vào bản thân…thì những hành vi mê cuồng quá lố đối với những thần tượng showbiz như khóc lóc làm mình làm mẩy dọa bỏ học, bỏ nhà ra đi, thậm chí dọa tự tử nếu bố mẹ không kiếm được cho cái vé xem một chương trình biểu diễn của một ngôi sao ca nhạc Hàn Quốc, hoặc cúi xuống ngửi, hôn cái ghế thần tượng ngồi v.v…chắc chắn khó có thể xảy ra.

Không thể trách một bộ phận giới trẻ VN điên cuồng với phim Hàn, nhạc Hàn. Đó chỉ là hệ quả của một nền giáo dục mà các em đã được hấp thụ, một xã hội mà các em đang phải sống. Một nền giáo dục lạc hậu, thiếu hụt trầm trọng về mặt kiến thức văn hóa nghệ thuật ngay từ bậc phổ thông. Suốt những năm học phổ thông và kể cả đại học, các em nào có được học/xem/nghe gì bao nhiêu về âm nhạc, hội họa, kiến trúc, văn học…cổ điển và hiện đại của các nước? Hay chỉ được học/xem/nghe chủ yếu về âm nhạc, hội họa, kiến trúc, văn học…Việt Nam, mà phần chính là từ thời…cách mạng?
Nếu em nào không tự mình tìm tòi hoặc may mắn được gia đình có hiểu biết hướng dẫn, thì sẽ là cả một lỗ hổng lớn về mặt kiến thức. Không hiếm trường hợp đã là sinh viên nhưng nếu hỏi đến các loại nhạc yêu thích, nếu không nhạc Hàn thì cũng chỉ là nhạc trẻ VN, hỏi đến các loại sách hay đọc, vẫn chỉ đọc truyện tranh, hoặc những loại sách dễ đọc kiểu như Twilight, những cuốn tiểu thuyết của Marc Levy…

Giáo dục đã thiếu hụt, đến môi trường sống xung quanh nếu muốn đi xem một bảo tàng triển lãm tranh có giá trị, một buổi trình diễn hội họa đương đại, nhạc kịch opera, hay nhạc giao hưởng…cũng khó kiếm.

Truyền thông VN cũng cũng góp phần làm lệch thêm cái sự lệch lạc, thiếu hụt này khi mở TV ra thì chỉ rặt phim Tàu, phim Hàn, nhiều tờ báo mạng lá cải tối ngày đưa tin, hình ảnh về các ngôi sao Trung Quốc, Hàn Quốc cho đến cách ăn mặc, trang điểm…Các em đã không được thụ hưởng một nền giáo dục đầy đủ để có thể có được một trình độ thưởng thức văn hóa nghệ thuật tốt, một bản lĩnh văn hóa vững vàng, mà môi trường xã hội cho đến truyền thông hàng ngày đập vào mắt các em lại bày ra quá ít sự lựa chọn như thế, thì việc các em mê phim Hàn, nhạc Hàn cũng là điều dễ hiểu.

Nhất là khi phim Việt, nhạc Việt, thời trang Việt, hàng tiêu dùng xa xỉ phẩm Việt…chưa đủ sức hút để lôi kéo các em.

Đó là chưa nói đến sự quan tâm định hướng từ gia đình. Mà cha mẹ muốn định hướng tốt cho con thì trước hết bản thân mình cũng phải có sự hiểu biết nhất định về văn hóa nghệ thuật.

Cho nên, khi nào giáo dục, xã hội cho đến truyền thông Việt vẫn còn như hiện nay, thì chuyện có những cô cậu trẻ tuổi làm đủ trò điên khùng, mất lòng tự trọng vì một ngôi sao diễn viên, ca nhạc từ một dòng phim, dòng nhạc mang đậm tính giải trí nào đó, sẽ vẫn còn tiếp tục.


Không chỉ là một lễ giỗ...

Monday, April 02, 2012 7:15:19 PM

WESTMINSTER (NV) - Ðêm cuối tháng 3, hội trường nhật báo Người Việt lại trở nên đông đúc, nhộn nhịp, và tất bật. Không nhiều người trẻ xuất hiện ở buổi sinh hoạt văn nghệ này. Ða phần là người tóc đã điểm sương, hay đang bước vào tuổi trung niên thâm trầm.


Hiếm người đến một mình. Họ đến cùng gia đình. Hay đi cùng bè bạn.
Ðến để dự đêm tưởng niệm một năm ngày mất của nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang.
Ðến để nghe lại những ca khúc của dòng nhạc Du Ca - trẻ trung, sôi nổi, hào hùng, bi tráng. Và không chỉ có vậy.
Ðến để cùng nhìn nhau, ôn lại, nhắc nhớ những ngày đã qua, của một thời tuổi trẻ, nhiệt huyết và mê say.

Như một tục lệ, một nét văn hóa đầy tính nhân bản, những phút đầu của buổi họp mặt giỗ kỵ, người ta luôn lắng lòng, hướng tâm tư mình về với người đã khuất - nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Ðức Quang, trưởng xưởng sáng lập Phong Trào Du Ca Việt Nam.
Trên sân khấu Người Việt tối nay, người xem không còn nhìn thấy con người thật bằng xương bằng thịt Nguyễn Ðức Quang, người nhạc sĩ ôm đàn guitar, hát, nói, với tất cả nhiệt tình, nhiệt huyết, đánh thức người ta dậy, thôi thúc người ta vỗ tay, và khiến người ta phải mở miệng ra, hát cùng ông, cùng mọi người, dù khi ông còn trẻ, dù khi ông bước gần đến tuổi 70, dù khi ông trở lại sân khấu sau một cơn trọng bệnh.

Trên sân khấu Người Việt tối nay, người xem chỉ còn được nhìn Nguyễn Ðức Quang qua màn ảnh. Vẫn là người nhạc sĩ ấy, vẫn cây guitar ấy, vẫn gương mặt, ánh mắt, và giọng nói trầm ấm ấy, nhưng tâm tình ông gửi lại nghe ra có điều gì xao xuyến quá:

“Chúng ta đã phải đi xa, phải khổ sở, phải đấu tranh với thần chết để cuối cùng chúng ta có được sự tự do. Giá đó là quá lớn. Nhưng giá đó theo tôi không phải chỉ dành riêng cho chúng ta hưởng, chúng ta mong muốn những người đồng bào của chúng ta ở trong kia cùng hưởng…”

Tại sao chúng ta mãi mãi không có được cái lòng của một tình thương yêu nhau cho nó đậm đà, cho nó thật là thân thiết, cho nó có ý nghĩa đầm thắm? Tôi nghĩ rằng bài toán của đất nước Việt Nam, của dân tộc Việt Nam phải dựa trên tình thương yêu con người với con người. Chúng ta yêu họ và chúng ta quý tất cả những ai mang dòng máu, mang màu sắc của người Việt Nam.”

Kỷ niệm một năm ngày mất của nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Ðức Quang,
 chỉ còn những bạn bè, những người gắn bó hát thay người anh Du Ca của mình,
 những ca khúc của một thời Du Ca. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Trên sân khấu Người Việt tối nay, chỉ còn những bạn bè, những người gắn bó cùng Nguyễn Ðức Quang để làm nên một “phong trào Du Ca không chỉ của giới trẻ mà thực ra là của mọi giới từ năm 1965 đến 1975,” hát thay người anh Du Ca của mình, những ca khúc của một thời.

Nhiều lắm những gương mặt của một thời Du Ca cùng tề tựu về nhân ngày giỗ đầu của Nguyễn Ðức Quang, như lời giới thiệu của ông Hoàng Ngọc Tuệ, một trong những huynh trưởng của Du Ca:
“Người ở xa, có anh Nguyễn Thiện Cơ từ Sài Gòn sang, ở gần có các bạn ở San Diego lên, các anh chị em hướng đạo vùng San Bernadino, Riverside, Los Angeles. Có cả một cặp Du Ca đến từ Hòa Lan là anh chị Nguyễn Quyết Thắng, từng là trưởng đoàn Du Ca Ban Mê Thuột.”

Bên cạnh nhóm Du Ca Bắc California, nhóm Du Ca Nam California, người ta còn thấy đông đảo những người không phải Du Ca, mà họ đến vì tấm lòng đối với nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang, đối với dòng nhạc của một thời.
Trong khách đến tham dự, có người là ca sĩ, có người là họa sĩ, có người là bác sĩ, có người là xướng ngôn viên, có người là kỹ sư, có người là nhà báo, có người làm kinh doanh, có người làm khoa học, có người buôn bán, có người về hưu,... Có người còng lưng vì năm tháng, có người vẫn còn dẻo dai ngồi từ bên dưới hát thật to, vỗ tay thật rát, cho thỏa thuê những khúc nhạc Du Ca.

Vài nét chấm phá trong lời phát biểu của ông Hoàng Ngọc Tuệ đã giúp những người có mặt có dịp nhìn lại một cách bao quát hơn “3 đặc điểm chưa hề có trong lịch sử của phong trào Du Ca”:

“Về văn hóa, phong trào Du Ca thực sự khơi dậy trong lòng quần chúng và giới trẻ tình tự dân tộc và tình yêu thương quê hương đồng bào và đất nước. Về xây dựng con người, nhạc Du Ca của Nguyễn Ðức Quang luôn gây ý thức tác động lên người nghe và người hát để tự họ chọn con đường đi của mình, con đường đi trong sáng, phục vụ lành mạnh với ý chí đấu tranh, với lòng nhân ái và công chính. Về lãnh vực chính trị, sự ra đời của Du Ca và những ca khúc do nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang sáng tác ca ngợi tự do dân chủ, nặng lời phê phán sự hèn yếu của chế độ miền Nam lúc bấy giờ, đòi hỏi sự đổi mới toàn diện.”

Trên đặc điểm đó, người tham dự đêm tưởng niệm một năm ngày mất của nhạc sĩ Du Ca Nguyễn Ðức Quang lại cùng nhau lắng nghe tiếng đàn thùng, nghe lại những bài hát như “Ðoàn ta ra đi,” “Cho đồng bào tôi,” “Xương sống ta đã oằn,” “Về với mẹ cha,” “Giấc ngủ của mẹ,” “Chiều qua Tuy Hòa,” “Bên kia sông,”...
Và bao giờ cũng vậy, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ” luôn là bài hát kéo đầy người lên sân khấu, ngồi xuống luôn các tam cấp, và bên dưới người ta đứng dậy, để cùng nhau hát trước khi kết thúc chương trình.
Du Ca có sức cuốn hút khác lạ là như vậy.

Nhưng như đã nói, đêm cuối tháng 3, nhiều người tìm về nhật báo Người Việt là để cùng nhìn nhau, ôn lại, nhắc nhớ những ngày đã qua, của một thời tuổi trẻ, nhiệt huyết và mê say.


Khi khách đã tan, khi sân khấu không còn sáng ánh đèn, họ - những người bạn của Du Ca - quay lại thành vòng tròn, tiếp tục ôm đàn, và hát. Không có ca sĩ. Không có khán giả. Chỉ có những bạn bè. Những người đã qua một thời tuổi trẻ bên nhau, cùng loạn lạc, cùng đau đớn, cùng hờn cùng tủi, để hôm nay đây cùng cười, cùng vui, vì còn được gặp lại nhau, vứt qua những nhọc nhằn của mưu sinh, cơm áo, hận thù, hơn thua. Họ chỉ còn lại những ân tình, bè bạn, có nhau, hát với nhau, khi ngoài trời đêm xuống sâu, mưa vẫn lất phất bay, gió vẫn lắt lay thổi...

Khi khách đã tan, khi sân khấu không còn sáng ánh đèn,
họ - những người bạn của Du Ca - quay lại thành vòng tròn,
tiếp tục ôm đàn, và hát. (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Tôi nhìn cảnh đó, thấy mắt mình cay, bởi tôi biết, hình ảnh này sẽ không còn mãi, nơi tha hương này...

Ngọc Lan/Người Việt