Saturday, March 31, 2012

Triệu con tim, còn triệu khối kiêu hùng

Friday, March 30, 2012 4:26:47 PM
Ngô Nhân Dụng

Theo dõi các bloggers ở Việt Nam thì chúng thấy rất nhiều người trẻ đang mang những ước vọng như nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang: “Ta khuyên cháu con ta còn tiếp tục làm người. Làm người huy hoàng phải chọn làm người dân Nam.” Những ước nguyện viết trước đây gần nửa thế kỷ, cũng không khác những lời thiết tha của Việt Khang bây giờ.

Nguyễn Ðức Quang khác hẳn các nhạc sĩ cùng thời, những năm tang thương nhất trong cuộc chiến tranh Nam Bắc. Phản ứng của Nguyễn Ðức Quang không phải là đau khổ, thở than, tuyệt vọng. Các bài hát của anh toát ra tính chất khỏe mạnh, lạc quan, xây dựng, hướng về tương lai; trong khi anh vẫn ý thức thân phận khốn khổ, nhục nhằn của quê hương mình. Trong thời gian đó nhiều nhà đặt ca khúc khác nổi tiếng từ những phòng trà, những quán cà phê trong thành phố, kéo bao nhiêu người vào cơn mộng mị của họ. Nguyễn Ðức Quang hát cho các thanh niên, sinh viên, học sinh đi làm trại công tác, vì tâm nguyện giúp ích xã hội.


Sống trong giai đoạn chiến tranh khốc liệt này, ai sống ở miền Nam Việt Nam cũng ý thức thân phận làm dân một nước nhỏ bị đẩy vào một cuộc tranh chấp quốc tế giữa các cường quốc. Năm 1970 Nguyễn Ðức Quang nhìn thấy: “Dân chúng ta đã mềm nhũn... Người ơi này tấm thân gầy, một sông núi hai vai lửa cháy!” (Xương Sống Ta Ðã Oằn Xuống). Trong cuộc chiến tranh, những người lính miền Bắc bị tuyên truyền không hề ý thức mình đang gây ra một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, như Trịnh Công Sơn than thở “Hai mươi năm nội chiến từng ngày;” còn những người miền Nam phải cầm súng chống cự cũng biết rằng đây là một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ. Như khi nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn, một người lính, nói với người lính bên kia: “Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước - Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.” Nguyễn Ðức Quang nhìn xa hơn, thấy một sự thật là dân mình bị “bọn lái buôn” lường gạt: “Anh ơi anh, chung quanh ta còn có bao nhiêu đứa nhân danh mang đời ta đem bán cho muôn người nơi xa vời; từ Sài Gòn kia ra Hà Nội ấy!” (Bọn Lái Buôn ở Khắp Nơi). Nguyễn Ðức Quang nhìn thấy “Người dân mình bị dầm nát như loài giun thôi.” Vì cùng là nạn nhân phải trả món nợ cho cả hai khối tư bản và cộng sản, bằng xương máu dân mình, “Việt Nam chịu ân oán cho cuộc tranh đua... Bao nước vây chung quanh đòi nợ - Một dân tộc trả bằng máu hai chục năm qua.” (Im Lặng Là Ðồng Lõa). Người nhạc sĩ đã lên tiếng nói lên một sự thật.

Khác với những nhạc sĩ chỉ than thở và tìm quên trong các tình tự cá nhân hay tự che giấu đời sống thật sau những tư tưởng mộng mị hay siêu hình, Nguyễn Ðức Quang là một nhạc sĩ “nhập thế.” Anh kêu gọi, “Một người đi một bước, ngàn người cùng đi muôn bước. Ði làm đuốc soi quê hương ta đập tan bóng tối.” (Ðuốc Hồng Tuổi Trẻ). Anh viết những ca khúc cho các thanh niên đi xây dựng nhà cửa cho đồng bào tị nạn, “Rồi ngày mai này nhà sẽ cao - Anh em ơi tô nhanh lên nào!” (Làm Nhà). Anh đặt những ca khúc cho các học sinh, sinh viên đi làm công tác giúp ích: “Những nhát cuốc hôm qua hay bây giờ, làm Việt Nam thành một kho ấm no!”“Những nhát cuốc chôn sâu lời thở dài - Những nhát cuốc đưa ta về ngày mai... Những nhát cuốc reo vui mùa Tự Do.” (Những Nhát Cuốc)

Tâm hồn Nguyễn Ðức Quang lúc nào cũng vui vẻ yêu đời, anh muốn khơi dậy niềm tin tưởng, hy vọng cho các thanh niên chung quanh mình. Trong các cuộc lửa trại, các lúc họp đoàn, một thế hệ sinh viên học sinh khắp miền Nam đã hát với anh những câu ca đầy tin tưởng: “Hy vọng đã vươn lên trong màn đêm bao ưu phiền - Hy vọng đã vươn lên trong lo sợ mùa chinh chiến - Hy vọng đã vươn lên trong nhục nhằn tràn nước mắt - Hy vọng đã vươn dậy...” Rồi anh nhắc lại nhiều lần, nghe như lời cầu nguyện: “Hy vọng đã vươn dậy trong lòng anh, trong lòng tôi, trong lòng ai... Hy vọng đã vươn dậy trong ngày qua, sang ngày nay, cho ngày mai!”

Nguyễn Ðức Quang là người nhạc sĩ đi gieo rắc ý thức lạc quan và xây dựng cho một thế hệ các thanh niên miền Nam, những người không theo cộng sản. Trong lúc một chế độ dân chủ đang bắt đầu thành hình, nhiều người bắt đầu chán nản vì các cuộc tranh luận trong xã hội, một hiện tượng không thể nào tránh được trong các xã hội muốn sống tự do dân chủ. Một biến chứng của cuộc sống tương đối tự do là tinh thần phê phán đưa tới cãi cọ gay go và cay đắng quá đáng. Nguyễn Ðức Quang hát lên: “Không phải là lúc cứ ngồi đặt vấn đề nữa rồi - Phải dùng bàn tay mà làm nên tươi mới. Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau, khích bác nhau cho cay, cho sâu, cho thật đau.”
Nguyễn Ðức Quang cố gắng thuyết phục đồng bào, nhất là giới trẻ: “Không phải là lúc ta ngồi mà cãi suông. Không tin nơi nhau thế ta định nhờ ai bắt đầu? Thế giới ngày nay không còn ma quái; Thần tượng tàn rồi, còn anh với tôi; Chúng ta đi tới bằng cái tầm thường thôi!” Ðể “bắt đầu,” Nguyễn Ðức Quang hô hào: “Làm việc đi không lo khen chê! Làm việc đi hãy say và mê!” Và báo động: “Mình chậm chân đi sau người ta, còn ngồi đây nghĩ lo viển vông, thắc mắc, ngại ngùng, đến lúc nào mới là xong?” Bài ca Không Phải Là Lúc Cứ Ngồi Ðặt Vấn Ðề tuy viết từ năm 1966 nhưng nếu được cất tiếng hát lên bây giờ vẫn còn thích hợp.

Một năm sau khi Nguyễn Ðức Quang qua đời, hát lại các bài ca của anh viết từ những năm chinh chiến cũ, chúng ta vẫn thấy những lời ca tha thiết của anh còn rất cần thiết cho các bạn trẻ hiện nay. Trong lúc nền văn hóa kim tiền đang tràn ngập, trong lúc bao thanh niên mất kim chỉ nam đạo đức, còn bị sa vào vòng ma túy, trộm cướp; nước Việt Nam cần một cuộc phục hưng tinh thần, trước hết là cho giới trẻ, ngay trong trường học.

Nước Việt Nam đang cần nhiều nhạc sĩ nối tiếp Dòng Nhạc Nguyễn Ðức Quang, đem gieo rắc niềm tin tưởng, hy vọng, ý chí xây dựng quê hương. Một nét đẹp trong các sáng tác của Nguyễn Ðức Quang là lời và nhạc khỏe mạnh, vui tươi, hùng tráng nhưng không thuộc loại bài ca dành cho quân đội. Ðây là những bài hát của người dân yêu nước bình thường. Những biểu lộ của tình yêu nước nồng nhiệt cũng không rơi xuống tinh thần bài ngoại mù quáng, không hề kêu gọi đi giết người. Tính chất nhân bản này vắng mặt ở phần lớn các bài hát thường gọi là “cách mạng.” Chỉ khi người ta tự tin ở chính dân tộc mình, tin ở lý tưởng yêu thương đất nước của mình, thì mới lộ rõ thái độ nhân bản đó.

Trong khi cả nước lo lắng về nạn ngoại xâm, những ca khúc sôi sục lòng yêu nước như: “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại - Xương da thịt này cha ông miệt mài” phải được tiếp tục sáng tác để các thanh thiếu niên Việt Nam bây giờ họp nhau cùng ca hát. Ðể một lần nữa, chúng ta xác định “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ!” Với “Triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng!” Những khúc hát Nguyễn Ðức Quang đã viết tặng cho tuổi trẻ có thể gây cảm hứng cho các nhạc sĩ thời nay, để các bài hát yêu nước, yêu đời, yêu người lại được ca vang khắp các nẻo “Ðường Việt Nam.”


(Các ca khúc của Nguyễn Ðức Quang dẫn trong bài đều trích từ mạng của Phong trào Du Ca Việt Nam, ducavn.com)

Nguyễn Ðức Quang và tính năng động của xã hội dân sự Việt Nam


Ðoàn Thanh Liêm (viết nhân ngày giỗ đầu của Quang)

Nhân ngày giỗ đầu của Nguyễn Ðức Quang vào cuối Tháng Ba năm 2012 này, tôi muốn ghi lại một vài suy nghĩ nho nhỏ về sinh hoạt của Quang trong lãnh vực Xã hội Dân sự của dân tộc Việt Nam chúng ta trong mấy chục năm gần đây.

Nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang. (Hình: Dan Huynh/Người Việt)

Có thể nói hoạt động chính yếu của Quang từ thời niên thiếu cho đến cuối đời, thì hầu như hoàn toàn là ở trong khu vực Xã hội Dân sự, mà điển hình là thông qua Phong trào Hướng Ðạo và Phong trào Du Ca. Ðể bạn đọc dễ bề theo dõi câu chuyện, người viết xin trình bày tóm lược về các giai đoạn hoạt động của Nguyễn Ðức Quang - trước khi phân tích chi tiết về các sinh hoạt của anh trong hai phong trào này.

I. Sơ lược về cuộc đời hoạt động của Nguyễn Ðức Quang

1) Một ngày là Hướng Ðạo - Cả đời vẫn là Hướng Ðạo
Vào năm 1954, khi đi theo gia đình từ miền Bắc di cư vào miền Nam, thì Quang mới có 10 tuổi. Nhờ thân phụ là một nhà giáo, nên Quang đã được hướng dẫn chu đáo trong việc học hành cũng như trong lề lối sinh hoạt ngăn nắp lương hảo. Năm 1956 lúc mới có 12 tuổi, Quang đã gia nhập làm một hướng đạo sinh ở Ðà Lạt, và ở vào tuổi 15-16, Quang đã sáng tác được vài bài ca để cho các bạn cùng hát trong những buổi sinh hoạt của đoàn. Cả đến khi ra tới hải ngoại, lúc đã ở vào tuổi 50 rồi, thì Quang cũng vẫn còn gắn bó mật thiết với các sinh hoạt của phong trào Hướng Ðạo Việt Nam ở nước ngoài.
Vào lứa tuổi 20, lúc là sinh viên của trường Chính Trị Kinh Doanh Ðại Học Ðà Lạt hồi giữa thập niên 1960, Quang đã lăn xả hết mình vào công cuộc xây dựng phong trào Du Ca. Với trách nhiệm là vị trưởng xưởng của phong trào, Quang vừa sáng tác vừa trình diễn, lại vừa đảm trách việc huấn luyện cho các du ca viên qua rất nhiều lớp đào tạo được tổ chức ở khắp các địa phương tại miền Nam Việt Nam. Nhiều bạn vẫn còn nhớ cái xưởng Du Ca này được cho tá túc trong căn phòng nhỏ của nhà chứa xe của Dược Sĩ Hoàng Ngọc Tuệ trên đường Sương Nguyệt Anh Saigon - trong những năm tháng Nguyễn Ðức Quang và Ngô Mạnh Thu đều miệt mài sáng tác và tập dượt cho mấy đàn em hát thử những ca khúc thật là mới mẻ thời ấy.


2) Hoạt động của Nguyễn Ðức Quang trong hàng ngũ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (1968-1975)
Quang tốt nghiệp đại học vào năm 1968, lại cũng đúng vào thời gian lệnh tổng động viên được ban hành trong toàn lãnh thổ miền Nam - sau cuộc tổng tấn công hồi Tết Mậu Thân khiến cho chiến cuộc càng thêm sôi động tàn khốc ở khắp nơi, nhất là tại các vùng nông thôn. Nhưng vì là một nhạc sĩ có tài năng, nên sau khi tốt nghiệp khóa sĩ quan trừ bị Thủ Ðức, thì Quang được bố trí làm việc cho Cục Chính Huấn trong ngành Tâm Lý Chiến. Trong thời gian này, Thiếu Úy Nguyễn Ðức Quang đã cùng với nhiều đồng đội chuyên viên âm nhạc hợp nhau sáng tác những bản nhạc hùng có tác dụng động viên nâng cao tinh thần chiến đấu của anh em binh sĩ ngoài mặt trận. Các bản nhạc này là công trình của cả một tập thể, nên đã không hề đề tên ai là tác giả cả - nhưng đã được phổ biến rộng rãi trong quần chúng, điển hình như bài: “Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu...
Sau đó ít lâu, thì Quang được biệt phái về làm công việc chuyên môn tại cơ sở cũ là Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp ở Saigon. Vị thủ trưởng của Quang tại cơ sở này lại chính là ông Ðỗ Khắc Xiêm thân phụ của học giả Ðỗ Thông Minh. Và sau năm 1975, thì Quang phải đi “ở tù cải tạo” như bao nhiêu sĩ quan khác của quân đội miền Nam.

3) Hoạt động của Nguyễn Ðức Quang tại hải ngoại kể từ năm 1979
Sau khi được trả tự do khỏi trại tù, Quang về gặp lại Dược Sĩ Hoàng Ngọc Tuệ và hai người lại chung nhau tổ chức làm ăn với dịch vụ chuyên chở xe đò phục vụ bà con đi lại giữa Saigon với các tỉnh Long An, Mỹ Tho vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng coi bộ chuyện kinh doanh này không khá, nên Quang đã phải đưa gia đình lên ghe để vượt biên qua Mỹ vào năm 1979.
Sau khi tạm ổn định cuộc sống cho gia đình tại California, Quang đã lăn xả vào lãnh vực truyền thông báo chí, cụ thể là cộng tác với tờ nhật báo Người Việt - mà người khởi xướng là Ðỗ Ngọc Yến vốn trước năm 1975 đã từng là một nhân vật nòng cốt của trong phong trào sinh hoạt thanh thiếu niên tại miền Nam Việt Nam. Rồi qua thập niên 1990, Quang lại đứng ra thành lập cơ sở mới là tờ báo Viễn Ðông - bắt đầu mỗi tuần ra 4 số báo, rồi sau tăng lên đến 6 số báo mỗi tuần. Tiếp theo vào đầu thập niên 2000, thì Quang cùng với các bạn khai sinh ra cơ sở truyền thông QMS gồm có hai tạp chí là tuần báo Chí Linh và nguyệt san Phụ Nữ Diễn Ðàn, cùng với một số chương trình phát thanh và truyền hình. Có thể nói Quang đã dành ra đến trên 20 năm riêng cho công việc trong ngành truyền thông báo chí ở hải ngoại.
Một số bạn thân thiết với gia đình thì cho biết là: Ông Quang với tính nghệ sĩ, mà lại say mê với công tác xã hội, cho nên mọi chuyện về kinh tế gia đình đều do một mình bà Minh Thông là người bạn đời của chàng ra tay lo toan đảm đang trọn vẹn hết. Ðúng là chàng nhạc sĩ này có cung mệnh “Thân cư thê” vậy đó. Và cũng nhờ thế, mà thế hệ chúng ta mới có được những bài ca tuyệt đẹp phát xuất từ con chim đầu đàn này của phong trào Du Ca.





II. Sự đóng góp của Nguyễn Ðức Quang với Phong trào Sinh hoạt Thanh Thiếu Niên Việt Nam

1) Trưởng thành từ lò luyện Hướng Ðạo
Như đã ghi ở trên, Nguyễn Ðức Quang được đào tạo trong hàng ngũ hướng đạo sinh từ hồi còn là một thiếu niên mới được 12 tuổi. Và sau này vào tuổi trưởng thành, từ giữa thập niên 1960 Quang đã cùng với số đông bạn hữu khác dấn thân hết mình với sinh hoạt của giới thanh thiếu niên tại khắp miền Nam, điển hình là qua Phong trào Du Ca được phát triển mạnh mẽ cả ở trung tâm Saigon và cả ở rất nhiều địa phương các tỉnh miền quê nữa.
Quang đã trưởng thành qua sự đào tạo huấn luyện trong Phong trào Hướng Ðạo được khởi sự từ một tổ chức thiện nguyện tư nhân chuyên phục vụ giới thanh thiếu niên trong công cuộc mưu tìm một lối sống lành mạnh cho bản thân và cho cộng đồng xã hội nơi mình sinh sống.
Có thể nói tổ chức Hướng Ðạo là một trong những cơ sở nòng cốt của Xã hội Dân sự mà có kinh nghiệm đào tạo huấn luyện cho giới trẻ ở khắp nơi trên thế giới ngay từ đầu thế kỷ XX . Tổ chức này được du nhập vào Việt Nam từ đầu thập niên 1930 và đã phát triển rộng rãi tại nhiều địa phương trong nước ta trước năm 1945. Trong thời kỳ chiến tranh 1946-54, sinh hoạt Hướng Ðạo bị gián đoạn tại các vùng do Việt Minh kiểm soát. Nhưng từ năm 1950, tại vùng đô thị do phe quốc gia quản lý, thì các hướng đạo sinh lại có thể bắt đầu quy tụ tập hợp sinh hoạt với nhau được. Và chỉ sau năm 1954, khi hòa bình được vãn hồi, thì tại khắp các tỉnh ở miền Nam Việt Nam, Phong trào Hướng Ðạo mới lại được phục hồi một cách khởi sắc mạnh mẽ.
Và một số khá đông các huynh trưởng của Phong trào Sinh hoạt Thanh thiếu niên trong các thập niên 1960-70, thì đều xuất thân từ hàng ngũ hướng đạo sinh như Nguyễn Ðức Quang - điển hình như các chị Phạm Thị Thân, Lê Thị Dung, Hà Dương Thị Quyên, các anh Hoàng Ngọc Tuệ, Trần Văn Ngô, Ðỗ Quý Toàn, Trần Ðại Lộc, Nguyễn Văn Thuật, Ðỗ Ngọc Yến v.v...

2) Phong trào Sinh hoạt Thanh thiếu niên nở rộ vào giữa thập niên 1960
Vào giữa thập niên 1960, thì tổng số sinh viên đại học và học sinh trung học trên toàn lãnh thổ miền Nam đã lên đến con số quá nửa triệu người. Nhờ sự yểm trợ và khích lệ của các cơ quan chính quyền như Bộ Giáo Dục, Bộ Thanh Niên, Bộ Xã Hội, cũng như của các đoàn thể hiệp hội tư nhân hay của các tổ chức tôn giáo - thì sinh hoạt của giới thanh thiếu niên học đường càng có điều kiện phát triển thật đa dạng khởi sắc. Một trong những hình thức sinh hoạt được giới trẻ thích thú và nhiệt thành tham gia đông đảo nhất, đó là các trại công tác xã hội nhằm phục vụ cộng đồng địa phương - cụ thể như dọn dẹp rác rưởi, khai thông nước đọng, làm vệ sinh nơi các xóm hẻm, sửa chữa lớp học tại các trường ở ngoại ô thành phố... Ðồng thời các bạn trẻ cũng tổ chức những màn trình diễn văn nghệ và ca hát tập thể để vừa phục vụ bà con ở địa phương, vừa vui chơi giải trí lành mạnh với nhau nữa. Và chính là để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tập thể như thế đó, mà kể từ năm 1966, Nguyễn Ðức Quang và các bạn hữu thân thiết đã hợp với nhau phát động thành Phong trào Du Ca với hàng mấy chục cơ sở ở Saigon và các tỉnh miền quê.

Lịch sử phát triển của Phong trào Du Ca này cũng như của Phong trào Hướng Ðạo sẽ cho các thế hệ sau này biết rõ ràng hơn về sự dấn thân nhập cuộc của biết bao nhiêu huynh trưởng thanh niên đã miệt mài và kiên trì trong suốt bao nhiêu năm tháng để khơi động khai mở được một nếp sống lành mạnh cao đẹp cho giới thanh thiếu niên - ngay cả trong giai đoạn chiến tranh khói lửa tràn đày những đau thương tang tóc thuở đó. Ðóng góp riêng của Nguyễn Ðức Quang cho phong trào này, thì thật hết sức lớn lao quý báu - mà ta có thể nói như nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn hiện ở thành phố Sydney bên Úc châu đã có lần trao đổi trực tiếp với Nguyễn Ðức Quang rằng: “Những ca khúc của anh đã gắn liền với một phần lịch sử. Và anh đã làm trọn nhiệm vụ của anh đối với cái phần lịch sử ấy... Những ca khúc của anh đã bám vào trái tim con người...”
Quang không những đã sáng tác được đến hàng mấy trăm ca khúc, mà lại còn đích thân vừa gảy đàn vừa xướng hát cho cả trăm, cả ngàn các bạn trẻ cùng vỗ tay mà say sưa hát theo - trong không biết bao nhiêu cuộc tập họp sinh hoạt ở khắp các địa phương trong nước và sau này ở nhiều thành phố trên thế giới nữa.
Nhân tiện, cũng cần phải ghi ra đây một số thành viên khác mà cũng đã có những sáng tác cho dòng Nhạc Sinh Hoạt này, điển hình như các nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, Trần Ðình Quân, Trầm Tử Thiêng, Bùi Công Thuấn v.v...

III. Tính năng động của Xã hội Dân sự Việt Nam

Như ta đã biết tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975, các tổ chức phi chính phủ, bất vụ lợi được tự do thành lập và sinh hoạt, điển hình như Phong trào Hướng Ðạo và Phong trào Du Ca - là hai tổ chức mà Nguyễn Ðức Quang đã tham gia và gắn bó mật thiết trong suốt cuộc đời của anh - thì các tổ chức này đã có sự đóng góp thật đáng kể trong công cuộc rèn luyện giới thanh thiếu niên Việt Nam thời đó và cả bây giờ ở hải ngoại nữa.
Những ca khúc Quang sáng tác và trình diễn đã thổi một ngọn lửa nồng cháy nơi tâm hồn của tập thể lớp thanh thiếu niên liên tục từ nhiều năm nay. Ðiển hình như nơi ca từ trong bài “ Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” - một bài hát được các bạn trẻ ưa thích nhất - thì có những câu: “Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại. Xương da thịt này cha ông miệt mài... Còn Việt Nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng...
Hay trong bài “Cho Ðồng Bào Tôi” thì điệp khúc ghi rõ lời kêu gọi hết sức thiết tha nồng nhiệt: “Một địa cầu mới hãy mọc lên. Một thế giới mới hãy ra đời. Một nền hòa bình vĩnh viễn mau đến cùng người. Một đoàn người mới hãy vùng lên, bài ca tranh đấu hãy vang rền và người vì người hãy chủ động nuôi lớn quê hương.”

Và như ta đã biết, trên thế giới ngày nay càng ngày sinh hoạt của khu vực Xã hội Dân sự lại càng thêm phong phú khởi sắc - vì tính chất sáng tạo năng động và dấn thân nhập cuộc của hàng hàng lớp lớp những thiện nguyện viên, đặc biệt là lớp người trẻ tuổi với bàu nhiệt huyết sôi sục. Xã hội Dân sự vừa đóng vai trò làm “đối tác với chính quyền Nhà nước” (counterpart) như trong những công việc từ thiện nhân đạo phục vụ công ích. Mà Xã hội Dân sự cũng còn đóng vai trò làm “đối trọng với Nhà nước” (counterbalance) như trong việc chống bất công, nhũng lạm, chống nạn độc tài áp bức do cán bộ Nhà nước gây nên.

Tại Việt Nam lúc này hiện có vô vàn vô số những con người bất khuất như Việt Khang, Ðỗ Thị Minh Hạnh, Phạm Thanh Nghiên, Ðoàn Huy Chương, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Bùi Thị Minh Hằng ... Những người bạn trẻ này của thế kỷ XXI hiện đang nối tiếp cái tinh thần nhân bản nhân ái và tấm lòng yêu mến quê hương dân tộc - trong truyền thống kiên cường bất khuất do cha ông chúng ta đã truyền lại cho thế hệ của Nguyễn Ðức Quang vào giữa thế kỷ XX.


Xin cảm ơn Nguyễn Ðức Quang vì những đóng góp tuyệt vời của anh qua những ca khúc bất hủ và qua những buổi trình diễn say sưa linh hoạt của anh tại khắp nơi trên quê hương đất nước Việt nam thời trước và cả trên khắp các châu lục có đông đảo người Việt cư ngụ thời sau này nữa.
Rõ ràng là anh đã góp phần đáng kể vào công việc làm cho cuộc sống của thế hệ trẻ có ý nghĩa cao đẹp hơn, trong sáng hơn. Anh cũng giúp trong việc mở rộng cái Không gian Xã hội (Our Social Space) của chúng ta cho tươi mát hơn, thông thoáng hơn. Và Anh cũng như các bạn Ðỗ Ngọc Yến, Ngô Mạnh Thu... đã làm cho cái Nguồn Vốn Xã hội (Our Social Capital) của dân tộc chúng ta thêm phong phú hơn, sung mãn hơn mãi nữa.

(San Clemente California, Tháng Ba 2012)




Friday, March 30, 2012

Lửa cháy cho tình yêu

Châu Đình An


Nhìn tấm hình hết sức xúc động, nghĩ đến sự can đảm tuyệt vời và tình yêu đất nước của thanh niên Tây Tạng khiến tôi muốn khóc. Còn hình ảnh nào cao đẹp và ý nghĩa hơn. Kinh thánh Thiên Chúa Giáo dạy rằng: “Yêu là chết cho người mình yêu” vì Chúa Jesus đã chết đau đớn trên thập giá vì yêu thương nhân loài.

Chàng thanh niên Tây Tạng anh hùng cũng đã noi theo tấm gương của Jesus, là chết cho tình yêu, một cái chết không hề lãng phí. Chỉ có tình yêu, người ta mới dám vượt qua tất cả những khó khăn, gian khổ. Chỉ có tình yêu, người ta mới dám từ bỏ tất cả. Chỉ có tình yêu, cuối cùng, là hiến dâng sự sống tươi đẹp của mình. Cái chết cao cả cho tình yêu đất nước của chàng thanh niên Tây Tạng, mãi mãi và mãi mãi ngậm ngùi, đau đớn, ray rứt và rạng rỡ trong lịch sử tranh đấu của nhân dân và đất nước Tây Tạng.


Tháng 10 năm 1950, Mao Trạch Đông xua quân và chiếm đóng lãnh thổ Tây Tạng từ đó cho đến bây giờ. Tàu đã xáp nhập lãnh thổ Tây Tạng và phần đất của Trung Hoa, nhưng không thể nào xáp nhập trái tim, tư tưởng và con người Tây Tạng được.

Nhiều cuộc nổi dậy của nhân dân Tây Tạng bị đàn áp. Cho dù được Hoa Kỳ ủng hộ, và thế giới tán đồng, và vị lãnh đạo tinh thần được kính trọng, Đạt Lai Lạt Ma, vẫn không thể lung lay chế độ cộng sản Tàu. Một khi lòng tham của Tàu chiếm đóng, khó lòng nó nhả ra. Nhưng không vì thế, sự việc chống ngoại xâm của Tây Tạng chùn bước.

Bức hình thanh niên Tây Tạng tự thiêu phản kháng lãnh đạo cộng sản Tàu là Hồ Cẩm Đào khi đến thăm Ấn Độ, chắc chắn làm thế giới bùi ngùi xúc động, và là ngọn lửa sẽ thiêu rụi chế độ cộng sản Tàu trong tương lai.

Người Mỹ bị gọi là “can thiệp Mỹ”, hoặc “cảnh sát quốc tế” vì bị cho là xen vào các chính sách của các nước nhỏ, cho dù Mỹ can thiệp bằng kinh tế, văn hoá, quân sự vào các vùng trên thế giới. Nhưng, có điều là Mỹ không có chính sách chiếm đóng và không muốn đồng hoá lãnh thổ cho mình. Tàu thì khác, chủ trương của họ là chiếm đóng và đồng hoá các dân tộc khác vào lãnh thổ, Tàu muốn tàn sát, diệt chủng văn hoá, đè bẹp tư tưởng, để tất cả chỉ còn là Hán tộc duy nhất cai trị các sắc dân khác. 

Những nước có chung biên giới với Tàu như Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Afghanistan, Miến Điện, Nepal… là các nước nhỏ luôn bị, nhòm ngó, bị đe doạ, bị hăm he chiếm đóng lãnh thổ. Ngoại trừ Ấn Độ là nước đông dân có đến cả tỉ người như Tàu, và từng có cuộc chiến tranh với Tàu vào năm 1962, và Tàu cũng ngán Ấn Độ hiện nay. Còn lại, các nước nhỏ khác, là mục tiêu và tầm ngắm của Tàu trong dã tâm thôn tính, xâm chiếm. 

Việt Nam ta từng bị chiếm đóng, và suýt bị đồng hoá gần 1000 năm, nhưng sự quật cường anh dũng của cha ông ta, đã giành lại tự do, độc lập. Nhưng gần đây, dưới sự cai trị của nhóm cầm quyền cộng sản Việt Nam, các vùng đảo của tổ quốc mình, như Hoàng Sa bị chiếm đóng hoàn toàn, các đảo của Trường Sa bị Tàu lấy một số, và các nước như Phi, Đài Loan lấy một số, mà nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay thụ động, sợ hãi, né tránh khi đòi lại, thậm chí bắt nhốt dân mình khi người dân bày tỏ ý chí và hành động chống Tàu. Điều này đang là nỗi bất mãn lớn trong lòng dân Việt, trong cũng như ngoài nước.

Theo tôi, hạ cây phải bới rễ. Cái gốc cộng sản Tàu phải chết đi, thì cái ngọn cây cộng sản Việt Nam mới héo và khô rụi. Do vậy, chúng ta cần yểm trợ tích cực các cuộc tranh đấu của Tây Tạng và các tổ chức chống cộng sản Tàu khác, ngay cả các tổ chức của người Tàu như môn phái Pháp Luân Công chẳng hạn, cần được yểm trợ, ủng hộ và tạo thành cầu nối, mối liên kết chặt chẽ.

Lấy độc trị độc. Ngày trước, chế độ cộng sản Việt Nam đã dốc sức người, sức của để tiếp tay khối phản chiến Mỹ, khối báo chí thiên tả Mỹ chống đối cuộc chiến Việt Nam, và ngay cuộc mặc cả với Tàu qua ông ngoại trưởng Kissinger và thủ tướng Tàu Chu Ân Lai, cũng do bởi áp lực của khối thiên tả phản chiến này, để sau hết, quân Mỹ rút chạy và bỏ rơi miền Nam Việt Nam vào tay cộng sản miền Bắc.

Hôm nay, chúng ta hãy vận động truyền thông Mỹ và thế giới nhìn rõ về hình ảnh Đại Hán của Tàu là mối đe doạ của thế giới, kể cả đe doạ Mỹ trong tương lai gần. Hình ảnh của tự thiêu, đốt cháy thân mình, phản đối Tàu của thanh niên và người dân Tây Tạng, là hình ảnh sống động, chứng cớ hùng hồn nhất, về sự tức giận, bất mãn của Tây Tạng đối với chính sách Đại Hán Trung Hoa.

Dễ nhất, tẩy chay hàng Tàu, không ủng hộ sản phẩm Tàu dù qua nước thứ ba, là cái việc dễ làm và thiết thực nhất. Qua mạng lưới toàn cầu, email hình ảnh, thư từ, tin tức về việc chống ngoại xâm, về việc chiếm đóng các phần lãnh thổ của các nước, trong đó có Việt Nam mình đến tất cả các cơ quan truyền thông báo chí Hoa Kỳ và thế giới cũng là một việc dễ làm, chỉ ngồi trước bàn phím, gõ chữ “send” đến các địa chỉ.

Góp gió thành bão, và chẳng bao lâu cơn bão sẽ quét sạch chế độ cộng sản Tàu hiện đang phân hoá, lung lay bên trong nội bộ của họ. Gốc cây Tàu sẽ chết, và ngọn cây Hà Nội cộng sản Việt Nam sẽ khô héo.

Hình ảnh người Tây Tạng và Việt Nam lưu vong biểu tình chống Hồ cẩm Đào
đến thăm Ấn Độ tại Tân Đề Li ngày 26/3/2012 vừa qua.

Nhìn người lại nghĩ đến ta. Bao giờ thì ta có hình ảnh của một thanh niên Việt Nam nổi lửa đốt mình để chống Tàu tại Hà Nội?


Châu Đình An

Tuesday, March 27, 2012

Sẽ có một ngày



Sẽ có một ngày 
Con người hôm nay 
Vứt súng, vứt cùm 
Vứt cờ, vứt Đảng 
Đòi lại khăn tang 
Xoay ngang vòng nạng… 
Oan khiên 
(NCT) 

Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời, thì chẳng có chủ nghĩa mệnh danh, nhân danh nào tồn tại mãi, sẽ có ngày bị vứt vào thùng rác của lịch sử. Chủ nghĩa cộng sản thực sự đã CHẾT tại Việt Nam kể từ 1989, bắt đầu từ nước Poland, rồi sau đó toàn bộ Đông Âu sụp đổ. Cái nôi cách mạng đỏ của Mạc Tư Khoa rớt xuống, và đống tã khâm liệm màu trắng, đã tống táng Lê Nin, Stalin vào thùng rác nhơ bẩn của lịch sử Nga sô nói riêng, và cả nhân loại nói chung.

Không thể nào còn lại chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam ta, khi mà bắt đầu xuất hiện những “đại gia tư sản đỏ”. Đây là điểm mà chúng ta cần lưu ý. Bắt nguồn từ cái gọi “đổi mới”, tất cả các tài sản như nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, bến cảng, dầu khí và nhiều nguồn tài nguyên đất nước, do đảng Cộng Sản Việt Nam quản lý và kinh doanh sau khi chiếm đoạt của miền Nam, chỉ sau một đêm, qua một quá trình tinh vi chuẩn bị, đã biến thành tài sản tư nhân, và chủ nhân mới của các tài sản này, toàn bộ là đảng viên cộng sản Việt Nam cao cấp. Đảng cộng sản VN từ tay trắng, mà quậy nên cơm cháo. Sau 10 năm chiếm miền Nam 1975 – 1985, sử dụng sức người, sức của và vật chất phong phú, mà vẫn liên tục thất bại, vì bị Hoa Kỳ cấm vận, thiếu chuyên môn, và nhất là chính sách độc đảng cai trị một nền kinh tế quốc doanh “cha chung không ai khóc”. 

Tôi đã có dịp về thăm Việt Nam 5 lần, 3 lần về họp với một hệ thống kinh tế lớn, nhưng tôi đã không màng hợp tác. (có dịp tôi sẽ nói rõ hơn về vấn đề này) Nhờ thế, tôi đã có cơ hội đi từ Nam ra Bắc, từ những xóm nghèo thôn dã, lên tận miền Cao Nguyên nước mình. Nói không ba sạo, tôi đã khóc trong lòng, và mỗi chiều xuống trên quê hương, tôi đã rưng lệ thương cảm cho dân tộc mình. Tôi đã thấy những đống rác cao ngất, và người dân tôi, sống chui rúc sát đống rác hôi thối quanh năm. Tôi đã thấy những cụ già, đến tuổi mà nếu ở Mỹ sẽ được ăn tiền trợ cấp, an nhàn, thì ở nước Việt Nam mình lại phải đi mót, lưới cá ven sông, ven bờ, ôi, cả một đời cơ cực. Tôi đã tiếp xúc những đảng viên Cộng sản, có kẻ nghi hoặc không dám nói, nhưng đa số có kẻ vẫn cho là “nước mình như người trúng gió, đổi mới như ra gió, phải ra từ từ, chứ không gió độc trúng thì chết ngay”. Luận điệu cải tạo tư tưởng trong các trường đảng Nguyễn Ái Quốc tại các Tỉnh, nhồi nhét vào đầu họ những luận điệu, như chính trị cần ổn định thì kinh tế mới phát triển. Hoặc dân mình, dân trí thấp lắm, nếu dân chủ thì địch và phản động sẽ lợi dụng. 

Hiện nay, tình hình kinh tế thế giới ảm đạm, đã ảnh hưởng khốc liệt đến các nước chậm phát triển nghèo khó, trong đó có Việt Nam mình. Nói nôm na, nhà giàu có tiền thì vẫn sống và hưởng thụ, dù kinh tế có thê thảm, nhưng nhà nghèo thì tiền đâu mà ăn. Vì thế, nước ta nằm trong quỹ đạo của kinh tế bóng chiều.
Nhưng chính đảng cộng sản Việt Nam khi đổi mới để tự thoát sự sụp đổ như Đông Âu, cũng bị ảnh hưởng của con dao hai lưỡi, đó là, lớp tư sản mới mọc lên như nấm, và có người giàu quá nhanh bằng con đường làm ăn móc ngoặc, phi pháp như bán tài nguyên, bán rừng, bán đất, bán khoáng sản. Rồi nẩy sinh ra lớp tư sản mới, và sự chia rẽ bắt đầu, giữa đảng viên với nhau, vì tranh ăn, ganh ăn và bị loại.
Sự tranh giành nhau từ hạ tầng đến thượng tầng cơ sở. Nếu ông Hồ Chí Minh sống dậy, chắc ông sẽ phải ôm con mắt mình, vì con ngươi của đảng mà ông thống thiết viết di chúc kêu gọi gìn giữ, đã bị đâm sắp mù.
Bên cạnh, vì thiếu tầm nhìn chiến lược, kém tầm nhìn dài hạn, đo đó, các tư sản này, bỏ tất cả của cải vào một ổ trứng. Ví dụ như ổ trứng địa ốc, cái vấn đề này hiện nay rất te tua. Nếu bạn về Sài gòn hoặc Hà Nội, Đà Nẵng là 3 địa phương nổi bật, sẽ nhận thấy sự phát triển về nhà cửa, cầu cống đường xá một cách ngoạn mục theo hình thức. Nhưng, hiện nay, co cụm, phố thương xá, cao ốc không ai thuê, ngoại quốc làm ăn khó khăn, có cung ứng mà thiếu nhu cầu, bèn rút ra. Nhà cửa xuống giá tuột dốc như hiện tượng chim cút, và dĩ nhiên các đại gia địa ốc nổi tiếng bề ngoài như Đoàn Nguyên Đức của Hoàng Anh Gia Lai, đã phải than thở, thu nhỏ lại để sống còn. Và hiện nay, các tư sản này, chửi chính phủ Việt Nam không e dè, không lo sợ, chỉ vì, họ đã có thời, và cũng còn “mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. 

Đây là điểm mấu chốt, mà theo tôi, sẽ là mối lo cho đảng cầm quyền. Vì kinh tế thị trường đã quen ăn, bén mùi. Bây giờ, những thành phần này bắt đầu bất mãn vì miếng cơm manh áo và sự nghiệp của mình đang thu nhỏ, teo dần và có lúc sẽ phá sản. Chứ không phải là dân oan, dân bị cưỡng chế đâu.
Thành phần tư sản ở Việt Nam hiện nay là nhiều thành phần khác nhau, khi nổi dậy sẽ kéo theo dân oan, dân cưỡng chế và các đảng viên, cựu chiến binh bất mãn. Ngay cả các thành phần tư sản cho dù là “vệ tinh” của đảng cầm quyền, cũng bắt đầu bất mãn trầm trọng, vì phân chia quyền lợi không đồng đều. Ví dụ, khai thác cát dưới lòng sông bán cho Nhật để làm thuỷ tinh, đóng cho đảng cầm quyền 15% đến 20% số tiền thu hoạch, ta gọi đó là sân sau của các viên chức đảng cầm quyền.
Do vậy, anh Ba Dũng, có sân sau, anh Tư Sang có sân trước, anh Nguyễn Phú Trọng, anh Lê Hồng Anh, anh Nguyễn Sinh Hùng có sân ngang, sân dọc. Và các sân là ổ kinh tài khổng lồ các mối lợi nhuận, nộp vào quỹ của đảng cầm quyền, và các nhân sự cầm đầu cái đảng này chia phần với nhau.
Và sân của anh này nhìn qua cái sân của anh kia, gầm gừ, rình rập, canh chừng. Trước đây, ta nghe quà cáp, phong bì như ông Lê Khả Phiêu nêu ra là đồ bỏ, so với các lợi nhuận của sân sau, sân trước, sân ngang, sân dọc. Chưa kể, bên quân đội và công an có nhiều sân kinh tài âm thầm mà ta chưa thể biết hết. 

Theo tôi, đảng cầm quyền là đảng cầm tiền, sẽ phải tự thay đổi để thoát hiểm thêm lần nữa trước những áp lực mạnh mẽ của giới tư sản mới, và trong lòng người dân Việt Nam mình hiện nay, âm ỉ những bất mãn là, tại sao Hoàng Sa, Trường Sa bị mất, ngư dân bị Tàu bắt bớ, mà người dân biểu lộ sự phản kháng qua biều tình, thì bị cấm đoán, bị đánh đập, bị giam cầm? Nhưng, lần thoát hiểm này sẽ ngoạn mục, nhiều bất ngờ, vì cái mô hình, cái mặt nạ của chủ nghĩa cộng sản giả tạo, phi lý đã phơi bày rõ nhất. Và lần thay đổi này theo phương thức như thế nào, chắc chắn phải xảy ra, và tôi tiên đoán, chúng ta đang chờ đợi SẼ CÓ MỘT NGÀY… 

Đảng cầm quyền không có một mô hình chính thể, chính danh, chính đảng, chính hiến. 

Như thế, phân tích những điểm vừa nêu, tôi có thể nói rằng: 

Sẽ có một ngày, người Việt Nam chúng ta sẽ: 

Về với miếu đường 
Mồ mả gia tiên 
Mấy chục năm liền 
Bức bách lãng quên 
Rồi hình ảnh, chắc chắn, sẽ có một ngày: 
Kẻ bùi ngùi hối hận 
Kẻ kính cẩn dâng lên 
Này vòng hoa tái ngộ 
Đặt lên mộ cha ông… 


Saturday, March 24, 2012

Quê hương bỏ lại - Jennifer Lynh - Việt Khang - Việt Nam tôi đâu?

HoangHacQuan (danlambao) – Em sinh ra trong gia đình mẹ Việt Cha Mỹ, trong thế giới đầy ắp tình người, đầy ắp tự do…
Giờ này, đáng ra em phải ngọng nghệu hay ngượng ngập khi nói tiếng Việt, hay ca một bài ca thế này. Bài ca thay vì mẹ em phải ca vì đây là tâm trạng của mẹ em, tâm trạng của ông bà cô bác cùng thời bỏ nước ra đi…
Em ca lên bài ca Quê Hương Bỏ Lại bằng chất giọng rõ nét người miền Nam, diễn xuất bằng tâm trạng đầy hoài cảm, u uất như tâm trạng chính mình bỏ nước ra đi.
Cùng là bài ca của những nghệ sĩ điêu luyện từng ca mà tôi đã từng nghe,
nhưng hôm nay, tiếng ca của em mới thực sự đưa tôi trở về với những ngày lênh đênh nơi biển khơi, thực sự đưa tôi trở về với quê hương, một quê hương tan thương của thời binh lửa, một quê hương biến động theo dòng đời sau 30 tháng 4 năm 1975, và một quê hương đang mất dần biển đảo, mất dần điều cao quí nhất đó là cửa tình người đối với người, đối với dân tộc đang rời khỏi trái tim trong mỗi con người Việt Nam.


Đôi dòng tôi viết lên đây không phải để vinh danh cho một tài năng, mà đây chính là một hiện tượng linh hồn một đứa trẻ vừa sinh ra xứ người đang trỗi dậy dòng máu Việt Nam, đánh thức sự mê ngủ người Việt lưu xứ. “Hãy nói…và hãy nhớ!” với ngón tay nhẹ nhàng chỉ thẳng vào đối tượng, tôi có cảm tưởng em đang chỉ thẳng vào đỉnh trán và tôi như bị nhói bởi những lời dồn dập, em như đang bảo tôi “Bác hãy thức dậy đi!!”. Tôi muốn nhân cơ hội này, để nhắc nhở người Việt lưu xứ, đúng là ta phải thức dậy, thức dậy để lắng nghe tiếng lòng ta đang thôi thúc, xin chớ thờ ơ để tâm hồn những mầm non lạc lõng đang rên xiết nỉ non.

Tôi cũng muốn nhân cơ hội này, gởi đến các bạn trẻ quốc nội rằng:
Một thanh niên Việt Khang trong nước đang cất cao tiếng rên xiết bằng một giòng máu Việt Nam đích thực, đấu tranh bằng hòa bình, bằng khát vọng tự do, thì nơi hải ngoại này, bao mầm non thế hệ thứ ba vẫn có một Jenifer Việt Nam đích thực đang sát cánh cùng các bạn. Các mầm non hải ngoại này đang trăn trở thay cho dòng người sinh ra họ, đã từng bị áp bức để phải đào thoát đánh đổi tự do bằng mạng sống, Jenifer còn phải trăn trở cho một quê hương để lại, và hơn bao giờ, những Jenifer hải ngoại này, lúc nào cũng mong cùng hiệp lực đấu tranh cùng các bạn, vẫn đao đáo cho một ngày về khi ánh tự do tỏa rạng trên quê hương.
Nơi nào không có tự do, nơi nào có áp bức là có tuổi trẻ, tuổi trẻ mọi miền không phân biệt trong hay ngoài đất mẹ. Hãy nhắc nhở nhau đi các bạn, rằng lòng yêu nước sẽ không còn cơ hội nào khác ngoài tuổi trẻ biết cùng hiệp lực, đứng lên thổi bùng ngọn lửa, ngọn lửa có đủ để đốt cháy nội thù bất công hay ngoại bang xâm lấn.
Nên nhớ! Đừng, đừng bao giờ để quá muộn màng mà những gì Việt Khang đã thấy, đã nói lên, anh đang đứng giữa trời Nam mà tưởng chừng như đang đứng giữa sa mạc hoang vu thảng thốt như chim quốc gọi hè “Việt Nam Tôi Đâu?”. Hay, Hằng ngày đối diện muôn người muôn mặt đầu có sừng, răng có vuốt… thảng thốt: “Anh Là Ai? Sao mắng tôi bằng tiếng Việt Nam.
Đau. Đau đớn quá phải không các bạn!
Năm nay là năm con rồng, dẫu sao người Việt Nam vẫn có chút tự hào vì là con Rồng cháu Tiên. Năm xưa những con Rồng vượt trùng dương sóng khơi, vượt núi đồi trùng điệp tìm cho riêng mình 2 chữ tự do. Xin hãy tận dụng, tận hưởng cho thật đúng nghĩa với 2 từ ấy, hãy dành chút thì giờ để cùng nhau tìm cách mang về cho người thân nơi quê nhà chút Tự Do, đừng lấy tự do có được để trở cờ đón gió, để phản bội lại chính mình và phản bội cả dân tộc sau đó. Năm xưa ta cỡi rồng đi nên ta còn hiện diện hôm nay, xin hãy cùng nhau cỡi Rồng về, đừng tự về bằng cách khom lưng; e rằng không còn cơ hội đứng thẳng lưng….



Friday, March 23, 2012

Thêm một hành động “rừng rú” của bọn csVN.

Phái đoàn điều tra phong Chân phúc cho Hồng y Phanxicô X. Nguyễn Văn Thuận bị thu hồi visa

 


VRNs (23.03.2012) – Sài Gòn – Hai nữ nhân viên Văn phòng Toà tổng giám mục SàiGòn vừa cho phóng viên VRNs biết phái đoàn Toà thánh đến Việt Nam để điều tra phong Chân phúc cho Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã bị thu hồi visa và không được tiến hành bất cứ hoạt động gì.

Một nữ tu tham gia lớp Thánh Kinh 100 tuần cho biết, tối hôm qua, ngày 22.03.2012, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm, giám mục phụ tá Sài Gòn nói: Toà đại sứ Việt Nam tại Italia thu hồi visa nhập cảnh của phái đoàn Toà thánh Vatican. Theo nguồn tin này, Đức hồng y trưởng phái đoàn cho biết ngài đã được cấp visa vào Việt Nam để thu thập chứng cứ cho việc tiến hành phong Chân phúc cho tôi tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, nhưng sau đó lại bị thu hồi.

VRNs đã liên lạc với Phòng Kitô, Ban tôn giáo – dân tộc Sài Gòn và nơi này bảo không biết chuyện đó. Khi phóng viên VRNs cho biết đây là tin chính thức từ Toà tổng giám mục Sài Gòn, thì cán bộ Ban tôn giáo này đá banh sang Bộ ngoại giao và Ban tôn giáo chính phủ. Sau đó, VRNs đã tìm cách liên lạc với Ban tôn giáo chính phủ, nhưng có thể đã ngoài giờ hành chánh, nên không ai nhận cuộc gọi.

Theo thông báo đã được phổ biến trên WHĐ ngày 02.01.2012 thì “trong tiến trình phong Á thánh và Hiển thánh cho Vị Tôi tớ Chúa là Đức cố Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, nguyên Tổng giám mục phó Tổng giáo phận Sài Gòn, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình, Hội đồng Tòa Thánh về Công lý và Hòa bình sẽ cử một phái đoàn đến Việt Nam từ ngày 23 tháng 3 đến ngày 9 tháng 4 năm 2012 để gặp gỡ và lắng nghe những chứng nhân của Giáo Hội Việt Nam nhằm thu thập chứng từ cụ thể sống động về những nhân đức của ngài”.

Đây là một hoạt động thuần tuý đức tin Công giáo, nhưng đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam ngăn chặn. Liệu đây có phải là bằng chứng công khai vi phạm tự do tôn giáo của nhà cầm quyền Việt Nam không?

Được biết, trung tướng công an, tổng cục trưởng tổng cục phản gián Phạm Dũng vừa được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng ban tôn giáo chính phủ Việt Nam, và việc thu hồi visa của phái đoàn Toà thánh Vatican được xem là hành động đầu tiên của vị tướng công an làm tôn giáo này.

Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam bắt tù 13 năm, mà không hề có bản án nào. Nay khi ngài đã qua đời, nhà cầm quyền vẫn tiếp tục tìm cách ngăn chận sự ảnh hưởng của Ngài trên dân Việt Nam lẫn cộng đồng Công giáo quốc tế.

Thomas Việt.VRNs


Thursday, March 22, 2012

Ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản Trịnh Công Sơn & Khánh Ly

Mấy hôm nay thấy quãng cáo trên TV, một chương trình ca nhạc thật “hoành tráng” với những ca khúc của Phạm Duy & Trịnh công Sơn và những giọng ca tên tuổi trong nước cũng như hãi ngoại, vào cuối tháng nầy tại San José và nam Cali. Lãng Tử tôi thấy buồn cười, tại sao không là tháng nào khác mà là tháng 4?

Chẳng qua là có một số người vẫn còn mê muội ca tụng TCS xem hắn như một thiên tài, một hiện tượng của nền âm nhạc VN…mỗi năm cứ đến đầu tháng 4 thì lại làm giổ, tổ chức tưởng niệm, vinh danh… cho tên cs nằm vùng họ Trịnh nầy.
Năm nay nhằm để tránh những chống đối nếu chỉ có tên TCS đơn độc, những tên con buôn âm nhạc ma mị kéo thêm tên lão già mất nết P.Duy vào đứng chung với TCS (thật ra cái tên P.Duy cũng chẳng thơm tho gì).

Họ ra rã nói là chúng tôi vì nghệ thuật chứ không vì tiền, chi phí tổ chức rất tốn kém, nếu vé bán không được 2/3 coi như lỗ nặng…Ha!Ha!Ha!!! biết lỗ mà vẫn bỏ ra bao công sức để làm, vì nghệ thuật hay vì muốn tiếp tục ru ngủ cộng đồng NVHN để họ bớt chống đối nhà nước csVN, như là bọn csVN đã từng dùng TCS (một thành viên trong cái gọi là Tổ chức trí vận của Thành Ủy Việt cộng Huế) để ru ngủ gây suy sụp tinh thần yêu nước của thanh niên, sinh viên, học sinh miền nam trước 1975, tạo nên phong trào chống chiến tranh (một chiều) khắp nơi để gây hổn loạn, bất mãn trong miền nam, đòi người Mỹ rút quân…tiếp tay cho bọn cs chiếm trọn miền nam Việt Nam.

Miền nam Việt Nam không mất trên chiến trường mà mất trên bàn hội nghị Ba lê, mất ngay tại thủ đô Washington DC của Mỹ, hậu quả của những cuộc biểu tình phản chiến (một chiều) khắp nơi do bọn cs quốc tế giựt dây. Không ai chịu hiểu rằng người dân miền nam chúng tôi cũng đã chịu quá nhiều đau thương từ cuộc chiến tranh triền miên đó, chúng tôi cũng mong ước có hòa bình trên đất nước mình, nhưng không thể đứng yên để kẻ cướp vào nhà cướp đi hết mọi thứ, trói tay chủ nhà và gọi đó là giãi pháp hòa bình, chúng tôi phải tự vệ mà thôi.

Thế mà bây giờ vẫn còn một số người chưa tỉnh thức, vẫn cho rằng Trịnh Công Sơn là một “thần thoại”, một “di sãn văn hóa” cần phải bảo tồn (?). Nếu là những thành phần trẻ sinh sau 1975 hay thành phần ở lại sống dưới chế độ csVN nhiều năm thì còn có thể châm chế được, tuy nhiên cũng còn một số người thuộc thành phần trí thức trước 75 mà vẫn còn u mê không nhận thức được những ngôn từ được dùng trong các bài nhạc của người ns họ Trịnh nầy chỉ là vay mượn trong các tác phẩm triết học của các triết gia hiện sinh thời bấy giờ như Jean Paul Sartre, Albert Camus…(xem bài viết của tác giả Kim Phạm người bạn học của TCS tại trường Jean-Jacques Rousseau dưới đây).

Mỗi năm vào đầu tháng 4, cùng với trong nước họ dựng cái xác TCS lên để sơn phết lại cho xứng với bản chất “siêu phàm” của một tên cs trá hình, đã từng là cánh tay đắc lực của cs để làm sụp đỗ miền nam VN. Hãy nghe những lời kêu gọi của TCS trong ngày “giải phóng” 30-4-75 dưới đây.
Cũng đừng quên cs Khánh Ly như là “cái bóng” của TCS (đó là do chính KL nói), bà ta đã tiếp tay TCS để phổ biến những ca khúc “phản chiến một chiều” của TCS như: Ca Khúc Da Vàng, Ca Khúc TCS, Kinh Việt Nam…gần đây bà ta còn hát trong một buổi tiếp tân tại nam Cali. của tên phó LS csVN  Trần như  Sơn (xem video).
Lãng Tử 75


Tài liệu âm thanh kèm theo đây là tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh vào trưa ngày 30.4.1975.
Tiếp theo là lời của ông Nguyễn Hữu Thái, cựu lãnh đạo sinh viên miền Nam,
Lời chấp nhận đầu hàng của một sĩ quan Quân đội Nhân dân.
Rồi ông Nguyễn Hữu Thái giới thiệu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trước khi nhạc sĩ phát biểu.

Nguyên văn phát biểu của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn:

Tôi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn rất vui mừng và cảm động gặp và nói chuyện với tất cả các anh em văn nghệ sĩ ở miền nam Việt Nam này. Hôm nay là cái ngày mơ ước của tất cả chúng ta, đó là ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn tất cả đất nước Việt Nam này.

Cũng như những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả những kết quả đó.

Tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền nam Việt Nam hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.
Những kẻ đã ra đi chúng ta xem như là đã phản bội đất nước.
Chúng ta là người Việt Nam. Đất nước này đất nước Việt Nam. Chúng ta ở trên đất nước chúng ta.

Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẽ đến đây với thái độ hoà giải tốt đẹp.
Các bạn không có lí do gì sợ hãi để phải ra đi cả.
Đây là cơ hội đẹp đẽ và duy nhất để đất nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước từ mấy chục năm nay.
Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu cũng như những người chưa quen với tôi xin ở lại và chúng ta kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng Lâm thời để góp tiếng nói xây dựng đất miền Nam Việt Nam này

(Không rõ) Gặp tất cả anh em ở trong Ủy ban Cách mạng Lâm thời.
Hiện tại chúng tôi đang ở tại đài phát thanh Sài Gòn và tôi mong các bạn chuẩn bị sãn sàng để đến đây góp tiếng nói, lên tiếng để tất cả mọi người đều yên tâm.
Và tôi xin tất cả các anh em sinh viên học sinh của miền nam Việt Nam này hãy yên ổn kết hợp lại với nhau, khóm phường đều kết hợp chặt chẽ chuẩn bị để đón chờ Ủy ban Cách mạng Lâm thời đến.
Xin chấm dứt. Và tôi xin hát một bài.
Hiện tại ở trên đài thì không có đàn ghi-ta.
Tôi xin hát lại cái bài “Nối vòng tay lớn”.
Hôm nay thật sự cái vòng tay lớn đã được nối kết.

Trịnh Công Sơn: Phản Chiến Hay Việt Cộng Nằm Vùng
Trước Ngày 30-4-1975?
Mường Giang

Tháng 5-1970 tại Ðại Học Kent State ở tiểu bang Ohio (Hoa Kỳ), đã trở thành trung tâm của một cuộc bạo loạn đẩm máu chưa từng có, giữa đám biểu tình phản chiến chống chiến tranh VN và lực lượng vệ binh quốc gia. Kết quả có nhiều sinh viên trúng đạn chết và bị thương. Thảm kịch trên đã tạo nên một sự chia rẽ trầm trọng trong chính quyền Mỹ và người dân Hoa Kỳ. Hậu quả sau đó khiến Tổng Thống Nixon không còn con đường nào lựa chọn, nên đã ra lệnh triệt thoái quân đội Mỹ ra khỏi VN, bỏ mặc Miền Nam cho Cộng Sản Bắc Việt cưởng chiếm vào trưa ngày 30-4-1975 bằng súng đạn mua chịu của Nga Tàu.
Sau khi chiến tranh chấm dứt, tại Mạc tư Khoa, Nguyễn Hửu Thọ đã bày tỏ lòng tri ân xâu xa tới “ các phóng viên và báo chí phương tây “, trong số này quan trong nhất vẫn là Hoa Kỳ, vì đã mang lại chiến thắng “ từ trên trời rớt xuống “ cho VC một cách bất ngờ, mà ngay các chóp bu của đảng, cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn không biết đâu mà mò.
Chính bọn trí thức bất lương này, đã lợi dụng thiên chức “ báo chí “ để bẻ cong ngòi bút, đổi trắng thay đen, loan tin bừa bãi một chiều, ca ngợi Cộng Sản xâm lăng bắn giết đồng bào vô tội. Tất cả cũng chỉ với mục đích làm mất uy tín của chính phủ Miền Nam trên diễn đàn quốc tế và xuyên tạc cuộc chiến đấu chính nghĩa của QLVNCH.

Nhờ vậy, Việt Cộng dù đã bại trận khắp chiến trường Miền Nam, từ Mậu Thân 1968 tới trận chiến long trời lở đất tại Quảng Trị, An Lộc, Kon Tum năm 1972 .. nhưng cuối cùng lại “ đại thắng mùa xuân “ ngay trên bàn giấy thủ đô Hoa Thịnh Ðốn, làm cho siêu cường số 1 của thế giới, phải cúi mặt nhục nhã từ ấy đến nay vẫn chưa hết nhục vì bị chính đồng bào mình đâm sau lưng mình một cách tận tuyệt.
Ðó là chuyện của nước Mỹ. Tại VN, hiệp định Genève chia đôi đất nước được cái gọi là Liên Hiệp Quốc, áp đặt vào dân tộc nhược tiểu VN từ tháng 7-1954, trong khi chính người dân cả nước đã hy sinh máu xương suốt chín năm kháng chiến, để giành lại đất nước mình trong tay thực dân Pháp. Giữa lúc chính phủ miền Nam dồn hết nhân vật lực để kiến tạo lại quê hương bị tàn phá sau 100 năm bị giặc Tây đô hộ, hầu mang ấm no hạnh phúc cho muôn dân, thì trên đất Bắc, không khí chiến tranh gần như nguyên vẹn. Bức tranh vân cẩu đã được nhà thơ Phùng Quán vào tháng 10-1956 , vẽ lên khi ông chứng kiến được những sự thật não lòng.
“ Ta đã đi qua những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp những bà mẹ già quấn giẽ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo giây thép gai tay máu chảy ròng
Bới đồn giặc trồng ngô tỉa lúa
Tôi đã gặp những cô gái trồng bông
Hai mươi ? ba mươi ? Tôi không nhìn ra nữa
Mồ hôi sôi trên lưng, mặt trời như mõ hàn xì lửa
Ðốt đôi vai cháy hồng .. “.

Ðiều này cũng dễ hiểu, vì Hà Nội lúc nào cũng phải trường kỳ chiến đấu trong thân phận của một mũi xung kích, do cọng đảng quốc tế giao phó. Bao nhiêu khuôn vàng thước ngọc của Mao Trạch Ðông ban truyền từ năm 1942 tại Diên An, đều đước các đảng viên cao cấp mang về VN xào nấu lại thành cái lý thuyết chỉ đạo văn nghệ tập thể vô sản chuyên chính. Sau cùng để cho hợp với hoàn cảnh từng giai đoạn chiến tranh, những lập thuyết đề cương văn nghệ mới lại tiếp tục ra đời như thi đua ái quốc và chủ nghĩa anh hùng, qua cái bình phong hội văn nghệ giải phóng miền Nam, giải văn nghệ Nguyễn đình Chiểu..
Ðọc văn biết người nhưng trong dòng văn học miền Bắc, thì chỉ cần nhìn tựa sách cũng đủ biết hết nội dung.Tất cả các văn thi sĩ đã thành danh thời tiền chiến như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn công Hoan, Thanh Tịnh, Cù huy Cận, Thế Lữ, Xuân Diệu.. cho tới những người mới nổi như Nguyễn Ngọc, Lê Lựu, Nguyễn Sáng.. kể luôn nhóm cọng sản đang nằm vùng tại miền Nam như Giang Nam, Ðoàn Giỏi, Nguyễn văn Bổng.(trong bưng) , Thái Ngọc San, Ðông Trình, Trần Duy Phiên, Trần Hồng Quang, Trường Sơn, Tần Hoài Dạ Vũ, Huỳnh Ngọc Sơn, Trần Hữu Lục, Tiêu Dao Bảo Cự, Ngụy Ngữ, Võ Quê. Bửu Chỉ, Ngô Kha..(trong mặt trận văn hóa dân tộc miền Trung).. đều viết theo đơn đặt hàng, đằng đằng sát khí, cổ võ hờn căm, phân chia bạn thù , chống Mỹ, chống ngụy, để cứu nước.
Vì là nền văn học nghệ thuật chuyên chính, nên mọi người viết hay sáng tạo gần giống nhau, cách mạng đánh đâu thắng đó, còn Mỹ-Ngụy thì thua chạy bò càng, máy bay bị bắn rớt liên tục và người chết như rạ. Ðảng ta thì nhân ái vì dân vì nước, trái lại Mỹ Ngụy thì hung ác bao tàn hiếu sát.. Tóm lại người làm văn nghệ mìền Bắc hay bọn “ văn nghệ sỷ nằm vùng miền Nam “ chỉ như một cái máy hay con vẹt của đảng, không biết đau lòng trước mọi hoàn cảnh, không có cảm xúc nhưng phải biết đề cao để làm sáng chói tính đảng, tính giai cấp, tính siêu việt của xã nghĩa. Không có cái ta hiện hữu ở đây mà chỉ có tập thể, chỉ có niềm vui chung do đảng quyết định, còn mọi thứ khác phải cất giữ trong đáy lòng, hó hé , kêu than sẽ bị mút mùa cải tạo hay đi mò tôm kể luôn gia đình cũng bị liên lụy. Phải đổ hết mọi tội lỗi ‘ gây chiến tranh ‘ cho Mỹ-Ngụy, để đảng có chính nghĩa dân tộc. Ðó mới chính sự thành công của người ‘ Sáng Tạo ‘ dù viết văn, làm thơ hay kịch nhạc..
Bao nhiêu năm trời phải bịa đặt, lừa dối, từ trẻ nít cho tới kẻ bạc đầu để có tem phiếu mà sống. Rồi nhà văn, thi sĩ còn phải biết hèn cúi, nịnh nọt để yên thân, khỏi bị hạ tầng công tác hay tống vào Nam làm bia đỡ đạn. Một vài con chim lạc đàn, vô tình hay cố ý bay lệch bầu trời , sẽ bị trừng trị không thương tiếc, những Nguyễn Kiên Giang ( nằm vùng), Hoàng minh Chính, Nguyễn Duy, Phạm tiến Duật, kể cả Việt Phương, thư ký của Phạm văn Ðồng, làm thơ, viết văn lệch hướng đảng đều bị nghiêm phạt. Dòng thơ phản kháng của Nguyễn chí Thiện hay Bút Tre chẳng qua cũng chỉ là những con đom đóm , cho một chút ánh sáng le lói, rồi lại vụt tắt trong bóng đêm trùng trùng :
“..anh đi công tác Pơ Lây
Cu dài giằngđặc, biết ngày nào ra..
Anh đi công tác Buôn Me
Thuột xong một cái lại về với Em..
Chị em du kích tài thay
Bắn tầu bay Mỹ rơi ngay cửa mình.”.
( Bút Tre)
Ở miền Bắc, thiên đường xã hội chủ nghĩa là thế đó, trong khi tại miền Nam, dù bị chiến tranh, mọi người vẫn có hoàn cảnh tự do tối thiểu để sáng tạo theo ý mình, cũng như không hề có dòng văn nghệ một chiều hay chuyên chính. Bởi vậy mới có trăm hoa đua nở, từ văn chương chống cộng lúc đầu, sau đó thành chống chiến tranh dù chiến tranh được cọng sản mang từ miền Bắc vào. Cũng do chiến tranh quá dài và dai dẳng, nên ai cũng buồn phiền và chán ghét chiến tranh. Rốt cục, chính phủ và người lính miền Nam phải gồng mình ôm đồm tất cả, trong lúc hậu phương buông thả hững hờ. Mọi người gần như bế tắc và chỉ còn biết bơi lội quanh quẩn trong kiếp sống hiện sinh.
Giữa lúc thời cuộc quay cuồng theo tiếng bom đạn , thì một bọn ký sinh đứng ngoài lề cuộc sống khổ đau của miền Nam, lợi dụng tự do, nhân danh tôn giáo , khơi dậy trong lòng phiền muộn của những người trong cuộc bằng trò hề phản chiến, chống chính phủ, chấp tay cầu nguyện cho bồ câu trắng hiện hình trên bầu trời miền Nam, trong lúc xe tăng, đại pháo và cả triệu bộ đội miền Bắc đang hiện diện.

Góp phần hoàn thành “ cảnh địa ngục trần gian “ của VN ngày nay dưới cùm gông cộng sản, là công đức của những kẻ “ tu hành có lộng “ và công sức của đám phản tặc học đường, bàn giấy “ no cơm ấm cật, no lòng rửng mỡ “ trên đường phố, với bom xăng trong chiến dịch “ đốt xe Mỹ”  và dòng nhạc tuyên truyền một chiều của Trịnh Công Sơn, mới nghe tưởng là “phản chiến”. Nhưng thật sự đó là những vết dao trí mạng của kẻ thù , nhắm vào người lính trận Miền Nam, dù họ ngày đêm bán mạng, bán máu, bán cả tương lai đời mình, để tạo sự an toàn cho thiên hạ tại hậu phương nhởn nhơ đờn ca nhảy nhót, đổi vợ thay chồng..như thay áo..
Sau ngày 30-4-1975, chân tướng của họ Trịnh được phơi bày qua bia miệng. Từ đó chúng ta mới biết được nhiệm vụ của con tắc kè nửa xanh nửa đỏ, được đảng cho thay da đổi lốt tuỳ theo giai đoạn, từ vai trò “ phản chiến công khai giữa đám đông “ trước Tết Mậu Thân (1968) ,tới “ nằm vùng trong bóng tối “đến khi tàn cuộc chiến..
1 - CHÂN TƯỚNG CỦA HỌ TRỊNH QUA BIA MIỆNG LƯU TRUYỀN:
Trước năm 1960, trong cảnh thanh bình khắp chốn tại miền Nam, chiến tranh thật sự tạm vắng bóng trên chiến trường, nhưng trong văn chương chữ nghĩa miền Nam, nó vẫn hiện hữu bên cạnh các tác phẩm khác viết về tình yêu, tuổi trẻ, phong tục và triết lý. Sau đó nhóm “ Sáng Tạo”  ra đời, bắt đầu một cuộc phá phách, gây xáo trộn trong thị trường chữ nghĩa một thời, dù thực tế họ chỉ là những kẻ đi tiếp con đường vạch sẵn của phong trào thơ mới, của tiểu thuyết hiện sinh, của nhóm đệ tứ cọng sản quốc tế đả tàn lụn tại VN vì sự thanh trừng nội bộ.
Những thơ văn sáng tác của Thanh tâm Tuyền, Quách Thoại, Tô thùy Yên, Duy Thanh, .. mang cái ám ảnh của chiến tranh, dù trong tưởng tượng lúc đó, để có cái cớ sống hiện sinh, cá nhân, triết lý siêu hình.. như kiểu cách của các triết gia tây phương Albert Camus, Alain Robbegrillet, Nathalie Sarraute.. nghĩa là phải sống cho cái bản ngã riêng mình vì hoài nghi hết mọi người chung quanh.
Nhưng trong cái không khí sống chết mặc bây, may thay đã thấy xuất hiện Nhã Ca (đêm nghe tiếng đại bác, người tình ngoài mặt trận, giãi khăn sô cho Huế.), Ý Uyên (bão khô, tượng đá sườn non, ngựa tía.), Dương nghiễm Mậu ( địa ngục có thật, khi người chết có mặt..) Trang Châu (y sĩ tuyền tuyến), Văn Quang, Ðổ Tấn, Võ hữu Hanh, Phan nhật Nam, Vũ ngự Chiêu.. viết về tình yêu, tình đồng đội và thảm trạng chiến tranh, bằng lương tâm của người cầm bút trong cuộc, những người lính sống thật với lửa đạn chiến trường.
Cuộc binh biến 1-11-1963, tiếp tới ba năm xáo trộn (1964-1967) khiến xã hội miền Nam bắt đầu quây cuồng trong cơn lốc chính trị, do lòng tham lãnh tụ của bọn “ loạn tướng kiêu tăng”  tạo cơ hội cho cọng sản miền Bắc trỗi dậy và hiện diện trùng trùng khắp ngõ ngách VNCH. Những trận đánh đẫm máu, những cái chết của đồng đội, sự thương vong đổ vở của đồng bào trong vùng chiến nạn, cộng với cảnh lố lăng, tham nhũng, trò lộng hành của đám lãnh tụ sa lông cuồng ngông ở đô thành.. và cuộc sống sa đọa theo đồng đô la xanh đỏ, của gái điếm, me Mẽo, Ba Tàu, bọn quan tướng có thế lực.. làm cho tuổi trẻ và giới trí thức trở thành mất lòng tin, hoài nghi tất cả, nên lao đầu vào cuộc sống hiện sinh không bến bờ.
Tường đổ thì bìm leo, một số cọng sản nằm vùng như Sơn Nam, Vũ Hạnh, Lữ Phương, Lưu Nghi, Vân Trang, Minh Quân, Nguyễn ngọc Lan, Nhất Hạnh, Thế Nguyên .. trên các tờ Hành Trình, Ðối Diện, Tin văn, Ðất nước.. liên tục tố cáo chính quyền tham nhũng, bất công, đòi liên hiệp với cọng sản. Trong khi đó, Văn và Bách Khoa cũng đăng những bài thơ phản chiến của lớp người mới nổi sau năm 1970 như Ngụy Ngữ, Thái Ngọc San, Tần Hoài Dạ Vũ, Ngô Kha.. bôi bẩn danh dự của QLVNCH một cách không nhân nhượng.
Còn gì bi thảm hơn cho những người lính đang cầm súng chiến đấu, để bảo vệ quê hương, lại bị những tên phản chiến như Ngụy Ngữ mạt sát “chúng tôi là một thứ quân đội viễn chinh.. và quê hương bát ngát này không cần đến bọn viễn chinh.”.
Văn chương sắt máu, phản bội kiểu này, nếu sống dưới chế độ cọng sản, liệu y có còn mạng để sống, chứ đừng mơ tưởng để viết. Ðó là mặt thật của hai cảnh đời trái ngược. Người miền Nam như vậy, tại sao chúng ta không mất nước và thua trận ?
Trong cảnh tranh tối tranh sáng của ba năm xáo trộn (1964-1966), miền Nam gần như vô chính phủ vì thay đổi liên tục, bỏ ngõ phường phố cho sinh viên học sinh Sài Gòn, Huế.. tha hồ xuống đường biểu tình hoan hô đã đảo. Trong một cuộc biểu tình quanh khu vực Chợ Bến Thành (Sài Gòn) để đả đão Nguyễn Khánh và đòi xé bỏ cái gọi là ‘ Hiến Chương Vũng Tàu’, có một nữ sinh trường Bồ Ðề tên Quách Thị Trang, đã bị lạc đạn chết giữa đêm tối.
Một Quán Cà Phê “ Sinh Viên “ mang tên Văn cũng được ra đời trên khu đất trống mà Pháp dự định xây Bót Catina, giữa các đường Lê Thánh Tôn, Công Lý, Nguyễn Trung Trực.. do Nguyễn Khánh tặng, để ve vuốt bớt sự căm phẩn của giới SVHS lúc đó, sau cái chết của Quách Thị Trang. Nơi này cũng là trụ sở của tổng hội Sinh Viên Sài Gòn, lúc đó do Lê Hữu Bôi và Nguyễn Trọng Nho lãnh đạo. Quán Văn do sinh viên của trường Ðại Học Văn Khoa tạo dựng, nên hằng đêm được sự ủng hộ đông đảo của các sinh viên trên, tụ tập cả ngàn người.Trong phong trào hát du ca lúc đó, có cặp “ Trịnh Công Sơn-Khánh Ly”  tới hát, với những “Ca Khúc Da Vàng”.
Căn cứ vào tài liệu của ký giả sân khấu kịch nghệ Nguyễn Việt, viết cho tờ Tinh Hoa của Nguyễn Thạch Kiên tại Sài Gòn trước tháng 5-1975, thì cặp Sơn-Ly mới từ Ðà Lạt xuống. Lúc đó Khánh Ly rất bụi đời, đi chân đất, tay luôn kẹp điếu Salem, hát những bản nhạc của họ Trịnh, cũng là người đệm đàn cho Khánh Ly hát.
Thời gian này Trịnh Công Sơn đã sáng tác nhiều bản nhạc như Ướt Mi, Lời Buồn Thánh.. nhưng không được các ca sĩ thời đó để ý vì họ chỉ hát các tác phẩm của những nhạc sĩ nổi tiếng đương thời như Lam Phương, Mạnh Phát, Châu Kỳ, Lê Dinh, Anh Bằng, Trần Thiện Thanh, Y Vân, Lan Ðài, Phạm Mạnh Cương, Duy Khánh, Trúc Phương.. mang tính cách đại chúng. Trong khi đó nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn.. vừa mới nổi lên, lại chỉ hạn chế trong giới tuổi trẻ nên không được đón nhận nhiều.

Ngay tại Quán Cà Phê Văn, cặp Ly-Sơn cũng bị dội ngược bởi cặp Thanh Lan-Vũ Thành An với “ những bài không tên “, rồi Thanh Lan-Từ Công Phụng, Thanh Lan-Ngô Thụy Miên.. được giới sinh viên ủng hộ đông đảo.

Ðây cũng là điều dễ hiểu, vì trong lúc cặp “Ly-Sơn”  hát toàn những bài phản chiến giữa lòng đất nước đang bị Cộng Sản Bắc Việt xâm lăng, dầy xéo. Còn nhạc của Sơn toàn nói chuyện trên trời dưới biển, chỉ có những kẻ ăn không ngồi rồi mới có thời giờ thấu triệt. Trong lúc đó Thanh Lan là sinh viên của Văn Khoa, lại hát nhạc của Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên.. rất ủy mị trữ tình, chỉ ca ngợi tình yêu tuổi trẻ.. được coi như là những người đã khai phóng nét mới lạ cho Văn suốt thời gian tồn tại. Vì vậy những đêm có mặt họ, được mọi người đông đảo ủng hộ hơn là thời gian có sự hiện diện của Khánh Ly và Trịnh Công Sơn.
Một biến cố lớn đã xãy ra trong đêm Giáng Sinh 1968 tại Quán Văn, khi một thanh niên lên máy vi âm tuyên bố “hôm nay văn nghệ ăn mừng ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng MN (MTGPMN)”. Nhưng sv Ngô Vương Toại lên giựt máy nên đã bị tên này bắn trọng thương. Từ đó, họ Trịnh cũng bỏ trốn luôn và sống trong bóng tối mà sau này trên tờ Ðất Việt do hội kiều bào VC xuất bản, Sơn cho biết “mình đã trở về với nhân dân từ năm 1968”.

Chiều ngày 30-4-1975, tại Ðài Phát Thanh Sài Gòn trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, Trịnh Công Sơn xuất hiện, kêu gọi giới văn nghệ sĩ Sài Gòn theo VC sau đó hát bài “nối vòng tay lớn” coi như một cột móc kết thúc cuộc đời của một tên đặc công văn nghệ, nằm vùng tại miền Nam VN, đang sống trên đời nhưng đã bị xã hội khai trừ nguyền rũa.
Trong tác phẩm “Theo chân những tiếng hát” nhà văn Hồ Trường An có viết về Khánh Ly và Trịnh Công Sơn: “ sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn cùng với Khánh Ly mới từ Ðà Lạt xuống… rất mờ nhạt. Trong lúc đó Thanh Thúy hát ‘Ướt Mi’, Thái Thanh thâu dĩa ‘Diễm Xưa’, Hà Thanh trình bày ‘Hạ Trắng’. Tất cả do Trịnh Công Sơn sáng tác nhưng đã không được giới hâm mộ đón chào, dù những ca sĩ trình bày các bản nhạc trên đều là những người đang nổi tiếng và rất được ái mộ. Phải đợi đến Bạch Yến hát ‘Lời Buồn Thánh‘ và Lệ Thu qua bài ‘Xin Mặt Trời Ngủ Yên’.. thì thiên hạ mới bắt đầu dòm ngó tới họ Trịnh “.
Nhưng đây cũng không phải là lý do chính đưa Trịnh góp mặt với đám đông. Phải đợi tới năm 1967, khi Trịnh đưa hai tập nhạc của mình ‘Ca Khúc Da Vàng và Ca Khúc Trịnh Công Sơn’ cho Tô Thùy Yên nhờ viết tựa và giới thiệu.
Cũng theo Hồ Trường An, thì chính Tô Thùy Yên mới là động lực bắt thang đưa Sơn lên mây khi phóng bút ca Sơn hết cở , lại còn đem họ Trịnh so sánh với vua David qua những bài ‘ Thánh Vịnh’, ‘Diễm Tình Ca‘ của vua Salomon hay những chàng du ca (troubadour thời Trung cổ.. Nhờ những lời bốc này mà Trịnh đã bay thật xa và dính vào mắt của giới trẻ thời đó, phần đông chuộng thời thượng và ưa làm dáng trí thức dõm.

Nên không lạ gì có nhiều kẻ biết mình sẽ bị thiên hạ chữi rủa, khinh miệt khi mở miệng hát những bài do Trịnh sáng tác, trù ẻo cuộc đời, đất nước, dân tộc, theo kiểu triết lý hiện sinh nôn mữa của đám Tứ Quái nghiện ngập ‘The Beatles’ bên Mỹ, qua các bài “Xin Mặt Trời Ngủ Yên”, “Vết Lăn Trầm”. Ðây là chuyện quái gỡ ... nhưng vẫn cứ đeo mặt nạ để hát, vì kẻ đó sẽ được coi như là vĩ nhân thời thượng. Dịp này, Sơn còn ngông nghê muốn mời nhà văn Nguyễn Thị Hoàng theo mình đi du ca tứ xứ sau khi đã bị cả Thanh Thúy lẫn Lệ Thu từ chối hợp tác văn nghệ kiểu Khánh Ly...
Mới đây trên tờ Kiến Thức Ngày Nay số đặc biệt Xuân Ðinh Hợi 2007, Nguyễn Ðắc Xuân có nhắc tới “một người yêu của Trịnh Công Sơn” tên Nga My đang ở Orange County CA. Bà nay quen biết với Họ Trịnh từ giữa thập niên 60 khi còn ở Huế, nên viết hồi ký kể lại chuyện của hai người. Tình nhất là việc chàng rất ngông với tật bắn tàn thuốc lá lên nóc mùng và bất chấp có người khác nằm bên cạnh, vẫn cứ đòi nàng cho mình “một đứa con”. ( KTNN số 593, trang 58-61). Kỳ hơn là việc Trịnh đã yêu bà dì là Nga My, còn đèo thêm cô cháu là cs Hồng Nhung (đang ở Mỹ) nên đã sáng tác “mùa thu Hà Nội” để dụ khị nàng.
Chân tướng của Trịnh Công Sơn là vậy đó, thế mà cũng có người đòi tôn vinh gã, coi như là một di sản văn hóa của dân tộc Việt Cộng.
2-TRỊNH CÔNG SƠN PHẢN CHIẾN HAY NẰM VÙNG ?
Họ Trịnh đã chết từ tháng 4-2001 nhưng tới nay vẫn không yên mồ vì cái đám bợ đít cứ dựng dậy sơn phết một thây ma đã rã mục, chọc tức thiên hạ để mọi người có dịp “ đào mồ cuốc mã” một tên điếm văn nghệ, đã góp phần đem thê lương đói rách tới Dân Tộc Việt. Vì chính nó đã “ăn cơm quốc gia, thờ ma Hồ tặc“ như lời gã thú nhận lúc trưa 30-4-1975, trên đài phát thanh Sài Gòn “ rừng núi dang tay nối lại biển xa, ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà. Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay..”  trong lúc cả miền Nam đang chìm trong biển khổ .. thật đúng với cái cảnh “một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm đô hộ giặc Tây, ba mươi năm nội chiến từng ngày…” và cái thảm kịch đó do ai gây ra? chắc chắc Trịnh Công Sơn phải biết vì y dù gì chăng nữa cũng là một giáo chức, đã có thời gian từng đứng trên bục gổ dạy dổ học trò mình.
Rồi thì “gia tài của mẹ” quằn quại trong cảnh đau thương, tương tàn.. đã được nối tiếp, làm cho người miền Nam thêm nưc nở đau lòng trước thảm kịch chiến tranh. Ðiều này đã nói lên được tài hoa của nhạc sĩ họ Trịnh nhưng có điều gã lại quên không giải thích cho đồng bào mình biết: Chính Việt Cộng là kẻ đã mang chiến tranh và thù hận tới cho đất nước này. Nên muốn sớm có hòa bình vĩnh cửu, có tự do no ấm thật sự cho dân tộc và đất nước, mọi người phải đoàn kết một lòng “chống Cộng” để tiêu diệt chúng, chấm dứt cái cảnh “ba mươi năm nội chiến từng ngày”.
Hai mươi năm tồn tại của VNCH (1955-1975) cho dù không phải là cảnh thiên đàng hạ giới như tại các quốc gia tiền tuyến Âu Mỹ nhưng ít nhất cũng tạo cho người miền Nam một cuộc sống bình thường, có cơm ăn áo mặc nếu không bị CS từ miền Bắc xua quân xâm lăng. Riêng đối với cái đám lục bình ăn trên ngồi trước tại Huế, Sài Gòn như Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân, Ngô Kha.. kể cả Trịnh Công Sơn, xét cho cùng đâu có thiếu thốn gì nếu so với dân nghèo lao động và người lính trận đói rách áo cơm. Như vậy thì tại sao lại phải “hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi?”  trong lúc chỉ biết chui rúc trong thành phố, để nghe “đại bác đêm đêm dội vào thành phố, người phu quét đường dừng chân đứng nghe” . Thế nhưng ai bắn đại bác và hỏa tiển vào nơi thị tứ đông người, cớ sao họ Trịnh không bao giờ nhắc tới?
Trong lúc cả triệu nam nữ thanh niên miền Nam, hàng hàng lớp lớp tiến ra sa trường để ngăn chận giặc thù CS xâm lăng cướp nước, thì Trịnh Công Sơn làm kẻ hèn nhát (trốn lính), chui rúc sống ký sinh trong các phòng trà hộp đêm tại Sài Gòn, để tiếp tục thả nọc độc vào đám đông với những giọt nước mắt cá sấu. Trong khi đó cả trăm ngàn cảnh tượng đau thương chết chóc của đồng bào vô tội bị VC tàn sát dã man trong Tết Mậu Thân tại Huế, trên đại lộ kinh hoàng Quảng Trị, Kon Tum, An Lộc năm 1972, trên đường di tản liên tỉnh lộ 7 từ Phú Bổn về Tuy Hoà và nhiều cảnh chết chóc thương tâm khác tại các bến tàu khắp miền Nam vào những ngày cuối tháng 4-1975.. đâu có bao giờ nghe thấy Trịnh Công Sơn nhắc tới một lời ?
Ngược lại lúc nào cũng ra rã gào thét kết tội chiến tranh “một chiều” để đổ tội cho VNCH gây ra chiến tranh  với mục đích “chạy tội hèn trốn lính” . Ngày nay có dịp đọc lại những lời nhạc của gã họ Trịnh như  “từng chuyến bay đêm con thơ giật mình, hầm trú tang hoang, ôi da thịt vàng từng đêm soi sáng lạ mắt quê hương.. hay từng vùng thịt xương có mẹ có em, người già co ro buồn nghe tiếng nổ, em bé lỏa lồ khóc tuổi thơ đi.” lại càng thêm thương những đồng đội đã chết oan khiên trong cuộc chiến, vì sự bất lực của chính quyền , đã đồng lỏa dung túng một tên đặc công văn nghệ, đâm sau lưng QLVNCH.
Tóm lại từ sau Tết Mậu Thân 1968, lập trường chính trị của Trịnh Công Sơn đã lột xác, không còn giữ thái độ phản chiến chung chung như trước, mà là ra mặt chống đối Miền Nam thật sự như một tên CS Bắc Việt chính hiệu, qua những ca khúc trong “kinh VN, ta phải thấy mặt trời..”. Từ đấy Trịnh đã là một tên đặc công đỏ, đứng hẳn về phía giặc Hồ. Trong phụ khúc “tình ca của người mất trí”  họ Trịnh đã lên án Mỹ qua các cuộc dội bom miền Bắc “tôi mất trong chiến tranh này, bao nhiêu bao nhiêu người tình, người tình của tôi lớn lên, từ ngày miền Bắc dội bom”. Và phản bội trắng trợn nhất là bài “Ta phải thấy mặt trời” :
“ còn sống xin các anh quyết còn cách mạng
đời ta ta lo xin xếp vũ khí
bàn tay không tiến lên
đã qua bao năm hy sinh thịt xương
nay ta quyết phải sống
toàn nước chiến đấu
ta bền vững một lòng với nhau..”
Bởi vậy không thể nói là ngẫu hứng khi Dương Văn Minh vừa ra lệnh cho toàn thể QLVNCH buông súng đầu hàng CS Bắc Việt, thì họ Trịnh đã có mặt ngay tại Ðài phát thanh Sài Gòn đễ hát bài “nối vòng tay lớn Huế, Sài Gòn, Hà Nội…” mà y nói là đã soạn sẳn từ năm năm trước. Chỉ cần một bài hát này, cũng đủ để cho mọi người vạch trần bộ mặt phản bội đồng bào miền Nam là nơi mà Trịnh đã được sinh ra và lớn lên với một cuộc sống ấm no đủ đầy.
Từ tháng 5-1975 về sau, để minh định chổ đứng của mình trong thiên đàng xã nghĩa, họ Trịnh đã viết hơn 150 ca khúc để bợ đít chế độ như  “Huyền thoại Mẹ, Em nông trường em ra biên giới, Ra chợ ngày thống nhất, Ánh sáng Mạc tư Khoa..”  như là những bằng chứng xác nhận vai trò của một tên VC nằm vùng tại Miền Nam VN.
Ðể thêm sáng tỏ vai trò của Trịnh Công Sơn tại miền Nam, trong suốt cuộc chiến từ 1965-1975, hãy nghe Y trả lời cuộc phỏng vấn trên báo Ðảng “Năm 1963 tôi lên Lâm Ðồng trốn lính nên tình cờ gặp được Khánh Ly và chúng tôi đã rủ nhau về Sài Gòn hát trong phong trào Du Ca của sinh viên Văn Khoa. Ðến khi xãy ra vụ nổ súng tại Quán Văn trong đêm Giáng Sinh 1968, thì tôi không hát trước đám đông nữa’.
Sau khi Miền Nam bị cưởng chiếm hoàn toàn, họ Trịnh được đảng thưởng công, cho đi tham quan miền Bắc “thiên đường” mà Trịnh hoài mơ ước một đời. Về Nam, Trịnh được phong chức Uỷ viên Biên chế, nắm quyền sinh sát giới văn nghệ sĩ Miền Nam lên hương từ đó.
Ðã có một ít người tới nay vẫn còn xưng tụng Trịnh Công Sơn, nào là thiên tài âm nhạc, kẽ yêu nước thương nòi. Họ còn cao hứng mở đại nhạc hội vinh danh, làm đám giổ và đòi phải lưu giữ sự nghiệp của Trịnh như là một “di tản văn hóa”.. Ðây là cái quyền của mọi người nhất là ở một nước tự do như Hoa Kỳ. Tuy nhiên muốn là một chuyện, còn thực hiện được hay không lại là một chuyện khác. Phương chi Trịnh Công Sơn ngay từ thời gian trước năm 1975, đã bị đám đông khinh miệt và phỉ nhổ như một tên hèn nhát trốn quân dịch, sống chui rúc trong bóng tối đẻ mưu sinh cầu sống.

Ðó là lúc mà mặt thật của tên bán nước, ăn chén đá bát , chưa bị phanh phui. Còn ngày nay, qua một cuộc đổi đời, hình tướng của Trịnh đã được phơi bày từ trong hang cùng ngõ hẹp cho tới trang sách, bia miệng và chốn thị phi. Hầu hết ai cũng khinh nhờn căm giận và muốn ăn tươi nuốt sống gã, thì thử hỏi, sao không giúp cho một thây ma được nằm yên vĩnh viễn trong lòng đất, để xoa dịu lòng người, nhất là lúc này ai cũng căm thù VC bán nước hại dân làm tay sai cho Trung Cộng .
 
Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 5-2011
Mường Giang


TRỊNH CÔNG SƠN, NGƯỜI BẠN, KẺ ĐỐI NGHỊCH
Người chuyển bài  : KIM PHẠM

Niên khóa 1959-60, tôi lên lớp Terminale (lớp Tú Tài 2) ở trường Jean-Jacques Rousseau, Sài Gòn. Lúc ấy, trường này không mang tên Chasseloup Laubat nữa, như một ông tác giả nào đó còn gọi.

Lớp học là một phòng riêng biệt nằm ở góc đường Công Lý và Hồng Thập Tự, gần dinh Độc Lập. Trong lớp Terminale, ban Philosophie, có một số học sinh cũ từ dưới lên, có một số ở các trường ngoài vào, hoặc "học nhờ", như các nữ sinh Marie Curie. Ca sĩ Kim Tước, mà tôi rất mê tiếng hát, là nữ sinh Marie Curie, cũng "học nhờ" Philo tại Jean-Jacques Rousseau, nhưng trên tôi một, hai năm, tôi không nhớ rõ, vì chị lớn hơn tôi một, hai tuổi gì đó, nhưng hồi ấy, đâu có biết nhau, thấy chị, chỉ đứng xa mà nhìn, kính nhi viễn chi.
     
Trịnh Công Sơn là học sinh từ ngoài vào Jean-Jacques Rousseau học Philo, tôi chẳng rõ từ đâu tới mà cũng chẳng bao giờ hỏi. Lần đầu, các học sinh chọn chỗ ngồi, đâu vào đó rồi, không ai được thay đổi nữa, vì các thầy cô muốn vậy để dễ nhận diện, như thế cho đến hết năm học. Sơn đeo kính cận, gọng đồi mồi lớn, mặt mày, râu ria, và dáng dấp gầy gầy giống tôi, nên các thầy cô, nhất là Monsieur Pezeu, thầy Sử-Địa, một giáo sư vào tuổi sồn sồn (nổi tiếng dê cụ, nghĩa là lúc giảng bài cứ hay đưa mắt dòm dòm về phía các cô cười cười), thường lẫn lộn Sơn với tôi.

Nhiều lần Pezeu gọi lên khảo bài, tên thì gọi đúng của tôi, nhưng ông hất hàm, đưa mắt nhìn Sơn, hoặc ngược lại, gọi Sơn mà cứ đăm đăm ngó tôi, khiến hai đứa bối rối, nhìn nhau, tự hỏi không biết đứa nào sẽ phải "hy sanh", và có khi tôi, có khi Sơn, nếu hôm đó đứa nào thuộc bài, tự nguyện đứng lên bục trả lời thay cho đứa khác. Rủi là hai đứa đều kém Sử Địa một cách tồi tệ giống nhau, nên điểm đứa nào cũng dưới trung bình. Tôi nhớ một lần, lên "hy sanh" cho tôi, bị hỏi một câu về Địa khó quá, Sơn đứng như trời trồng, nhìn Pezeu cười trừ, vẻ rất ngây thơ vô tội, và bị ông thầy phết cho con 03 (trên 20), nhưng khổ một nỗi đó là điểm mang tên... tôi. Biết thế, nhưng chả đứa nào cải chính, vì hai đứa đều dốt và ghét Sử-Địa ngang nhau. Đó có lẽ là kỷ niệm duy nhất tôi có về Sơn.
     
Trong lớp Philo năm đó, có khoảng 40 tên. Ngoài Trịnh Công Sơn, tôi nhớ còn Nguyễn Văn Hòa, có Vương Quang Sơn, có Lê Hoàng Ân, có Trương Cam Hiển, có ba anh Tây con, mà tôi chỉ nhớ hai: Claude Desboeufs (Desboeufs có nghĩa "của những con bò", đúng ra phải đọc là Đề-Bơ, khi boeuf (bớp) ở số nhiều, nhưng chúng tôi muốn chọc anh ta gọi là thằng Đề Bớp, anh ta bực lắm, và Alain Bui (đọc là Bui, chứ không phải Bùi, Tây chính cống, đẹp trai, dễ thương, chơi thân, vì vậy nhớ đến anh ta tôi bèn lấy tên Julien Bui trên email cho có vẻ... nặc danh bí hiểm một chút). Những người bạn học này, tôi không biết tin tức gì từ ngày rời trường, năm 1960, tức đã đúng nửa thế kỷ rồi.    
Có ba người tôi biết tin chính xác. Đó là:     

1) Hoàng Văn Kim, rất đẹp trai, trắng trẻo, người Bắc, năm 1963, tôi về Nha Trang dạy học, thì bất ngờ gặp Kim đang là SVSQ tại Trung tâm Huấn Luyện Không Quân. Về sau, lúc tôi ra Thủ Đức, về đơn vị ở Ban Mê Thuột, Kim trở thành phi công lái khu trục A37 và năm nào đó, Kim lái biểu diễn tại quân trường Thủ Đức nhân dịp Nguyễn Cao Kỳ chủ tọa một buổi lễ lớn.
Theo báo chí, máy bay của Kim đâm xuống đất sâu mấy thước. Khi TCS viết bản nhạc "Cho một người nằm xuống" (Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây...), tôi cứ tưởng anh ta làm để tưởng niệm Kim, một bạn học cũ. Nhưng nghĩ lại Sơn không chơi thân với Kim hay bất cứ ai trong lớp bèn thắc mắc không biết đối tượng là ai, cho đến sau này, qua cô ca sĩ "mùa chay nào cũng có nước mắt" mách trên sân khấu mới rõ là cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, người đã chứa chấp cho Sơn trốn quân dịch và Sơn khóc để trả ơn.
        
Nhân đây tôi cũng xin mở ngoặc nói thêm về bài hát trên. Đó là một trong những bài phản chiến nặng nhất của TCS, cùng với bài "Kỷ vật cho em" của Phạm Duy, có hậu quả, hoặc mục đích, làm nhụt ý chí chiến đấu của các chiến sĩ QLVNCH. Không ai muốn chiến tranh, và phản chiến tự nó không có gì xấu. Nhưng trường hợp TCS, cái nghịch lý làm khó chịu là ở chỗ, anh ta cũng như các tay phản chiến quốc tế, mà tôi xin phép được gọi một cách bình dân là "cà chớn" hoặc nặng hơn, xuẩn động, như Bob Dylan, Jane Fonda, John Kerry, Jean-Paul Sartre, Bertrand Russell v.v... chỉ biết to mồm kết án Miền Nam mà quên, hoặc không dám, động gì đến lông chân của bọn lãnh đạo Cộng sản miền Bắc, thậm chí còn ca ngợi chúng  - thực ra mới là lũ gây chiến, hiếu chiến, đã xua hàng trăm ngàn quân, thôn tính Miền Nam, muốn nhuộm đỏ cả nước Việt Nam (điều chúng thực sự đã làm sau từ khi cưỡng chiếm đất nước ta, tháng 4, 1975), trong khi quân dân VNCH không đưa quân ra Bắc, mặc dầu dư sức làm điều ấy, chỉ thi hành nhiệm vụ tự bảo vệ. Kêu gọi chấm dứt chiến tranh một chiều như thế là tiếp tay cho VC trong mưu đồ, chiến thuật bắt Miền Nam đầu hàng mà thôi. Nếu thực sự yêu hòa bình chân chính, tại sao TCS, hay Phạm Duy, không làm bài hát nào thương khóc cho đồng bào ở Huế bị VC chôn sống vào Tết Mậu Thân, và lên án bọn đao phủ VC? Có không? Rồi, không hiểu sao, Trung tâm băng nhạc Asia, nổi tiếng hay tự cho là chống Cộng, mới đây, trong băng vinh danh người lính VNCH, lại đưa bài hát "cực kỳ" phản chiến này của TCS vào? Cẩu thả, dốt nát, hay chạy theo nhu cầu thị trường phải thỏa mãn tất cả khách hàng, thượng vàng hạ cám? Dĩ nhiên, ai thích nhạc TCS thì cứ việc mở máy thưởng thức một mình ở nhà, không ai thắc mắc, nhưng bắt người khác nghe theo mình, đó là áp chế.   
2) Phan Quang Tuệ, con của Thủ tướng Phan Quang Đán, hiện là thẩm phán Di trú tại San Francisco. Tuệ lúc còn ở trường chơi với tôi khá thân, thường nói chuyện qua lại, giọng của Tuệ hình như là Nghệ An, Hà Tĩnh lai Nam. Mấy năm trước, chị Kiều Mỹ Duyên cho tôi số điện thoại làm việc hay cell của Tuệ, tôi gọi mấy lần không được, nên bỏ luôn.    
3) Trần Quý Phong, con nhà giàu, chủ khách sạn Catinat, sau này trở thành dân biểu VNCH. Từ lâu tôi nghe tin ai nói, và đinh ninh, rằng Phong đã chết trong ngục tù cải tạo. Nhưng cách đây mấy tháng thôi, tôi đọc trên báo một bài tường thuật lễ kỷ niệm nào đó ở vùng DC hay Virginia, có nhắc rõ ràng tên "cựu dân biểu Trần Quý Phong" tham dự. Tôi dụi mắt, đọc lại cho kỹ. Té ra anh ta còn sống, mừng lắm! Không lẽ trước đây có hai ông dân biểu Trần Quý Phong? 
    
Trở lại Trịnh Công Sơn. Anh ta rất đơn độc, suốt niên học không nói chuyện với ai, trừ tôi ngồi cạnh, nhưng cũng chỉ thỉnh thoảng thôi, để hỏi bài vở. Ít nói, không thân thiện, nhưng không làm phiền ai bao giờ. Trái lại, tôi thấy vẻ ngoài Sơn dễ thương. Xong các giờ học, không thấy anh ta đâu nữa. Riết rồi chẳng ai còn nhớ sự hiện diện trong lớp của Sơn. Tôi nghĩ bây giờ những người học lớp Philo năm đó, không chắc có ai còn nhớ đến Sơn, trừ sau khi đọc bài này của tôi.

Lúc ấy, tiếng tăm của Sơn chưa nổi. Sơn sinh hoạt tại Jean-Jacques Rousseau như một bóng mờ. Khi đọc báo nghe biết anh soạn nhạc từ thời đi học, tôi rất ngạc nhiên, vì ít ra suốt thời gian còn ngồi cạnh nhau, tôi không hề thấy anh trong lớp viết lén nhạc hoặc ca âm ỉ trong miệng, trái lại học hành chăm chỉ, đôi khi tay chống cằm lơ đãng nhìn ra phía đường Công Lý, dập dìu xe cộ.    

Niên học của tôi cũng là năm đầu tiên chính phủ Pháp áp dụng thủ tục mới thi Bac II: thi hai lần, không có vấn đáp. Tháng 4 thi đợt đầu, hai tháng sau, đợt hai, tại khuôn viên trường Marie Curie. Điểm số của hai đợt được cộng lại để lấy trung bình cho đậu hay rớt. Cũng như với Bac I, bài thi từ Paris gửi đến qua Tòa đại sứ Pháp Sài Gòn. Tôi được đậu, nhờ bài Triết (số điểm ấn định cho môn này là 40 thay vì 20 cho các môn khác) mà tôi đầu tư vào tối đa, vì tôi biết mình kém về các môn khác, chủ trương "được ăn cả ngả về không", như hiện giờ thỉnh thoảng đánh phé tapis (all in) với bạn bè, em út. Năm đó, Trịnh Công Sơn, tôi dò đọc, không thấy tên trên bảng vàng. Và anh biến mất khỏi trường, khỏi trí nhớ tôi.      

Chuyện về Trịnh Công Sơn và bài viết của tôi có thể kết thúc tại đây. Nhưng thời gian phục vụ tại trường Đại Học CTCT, một đêm nào, tôi đi lang thang, tắp vào một quán cà phê, Tùng hay Domino (?), bất ngờ gặp lại Trịnh Công Sơn đang trình diễn nhạc ở đấy. Sơn không nhớ tôi, phải nhắc trường JJR, Monsieur Pezeu và chuyện "hy sanh" trả bài Histoire-Géo cho nhau, Sơn mới "à" ra, cười thành tiếng -điều rất hiếm hoi. Sơn còn nhái giọng nói của Pezeu khi gọi tên hai đứa: Ngu-y-en-Kim-Ky và Chin-Kông-Xon. Tôi cũng cười. Vì không khí ồn ào và Sơn bận tíu tít, tôi từ giã ra về, sau đó lòng thấy dửng dưng không buồn, không vui, bởi vì cả hai không thân nhau.

Rồi ngày 30/4/1975, trong lúc đất nước hấp hối, và quân trường CTCT vừa mới tan hàng, tôi và tất cả quân dân Miền Nam nghe trên radio tiếng hát của Sơn, trong bài "Nối vòng tay lớn".
Hát rồi nói, nói rồi hát tiếp, lặp đi lặp lại, giọng mỗi lúc một to hơn:
"Hôm nay ngày vinh quang của dân tộc, ngày này chúng đã mong đợi từ lâu, mời các bạn văn nghệ sĩ hãy về đây cùng ca với chúng tôi Nối Vòng Tay Lớn, vòng tay của anh em, của tình thương, của bẻ gẫy xích xiềng, của chống Mỹ, của diệt Ngụy."

Tôi ngỡ ngàng, đau xót, tức giận, buột miệng chửi thề: "Salaud, thằng khốn nạn!" Trên đường về nhà, đường Lê Văn Duyệt, thấy những chiếc xe tăng đầu tiên chở lúc nhúc những "sâu bọ" và những "đàn bò vào thành phố" (chữ của TCS), tôi nghẹn ngào, nước mắt chảy quanh.

Đọc trên báo, thấy có người "quốc gia phe ta" lên tiếng bênh vực hành động này của Sơn (ví dụ, Sơn bị bắt buộc), nhưng lập luận của họ quá ấu trĩ, không thuyết phục nổi ai. Những tài liệu tôi đọc được chứng minh rằng anh ta là VC nằm vùng thứ thiệt từ lâu. Nhưng đây không phải là chủ đích bài này.      

Rồi năm 1989, tôi đang ở Paris. Cô cháu gái tôi từ Việt Nam trở về. Cháu khoe với tôi, có ông nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đi cùng chuyến Air France, mang theo nhiều bức tranh, "bị cảnh sát phi trường Orly chận hỏi, ông ta cãi lại, bằng tiếng Pháp, cũng lưu loát lắm." Tôi nói, "ông đó học cùng lớp với cậu ở trường Jean-Jacques Rousseau Sài Gòn trước kia." Cháu reo lên, "hèn gì ổng nói giỏi tiếng Pháp."

Quả vậy, năm đó, Trịnh Công Sơn đến Paris để triển lãm tranh, hay trình diễn ca nhạc gì đó, dưới sự bảo trợ của tòa đại sứ VC. Dĩ nhiên, còn lâu tôi mới đi tìm gặp anh ta, xem tranh, hay nghe hát. Trịnh Công Sơn, một người bạn học cũ, đã chết trong tôi như một kẻ đối nghịch, một đứa phản bội, ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản, kể từ ngày 30 tháng 4, 1975, trước khi chết thật, vào năm 2001.  

Những người yêu nhạc Trịnh Công Sơn ca tụng nhạc của anh hay, lời óng chuốt như thơ. Tôi không nghĩ vậy. Tôi không rành về nhạc, nhưng có thể nói mà không sợ sai rằng nhạc Trịnh Công Sơn đơn điệu (monotone), tẻ nhạt quá, bài nào cũng một âm giai, nghèo nàn, buồn rầu, nghe là biết của anh liền, so với những ca khúc của Phạm Duy, phong phú, biến đổi (varié), mỗi bài mỗi khác, hay của Văn Cao nghe sang, cổ điển, cung điệu trầm bổng, thay đổi ngay trong cùng một bài, như "Thiên Thai" hoặc "Bến Xuân".

Còn lời ca?  Những chữ như rong rêu, sỏi đá, ghế đá, đá xưa, đá ngây ngô, hòn cuội, công viên, sâu bọ, kiếp người, hư vô, tiền kiếp, cát bụi, hóa kiếp, trần gian, hiện tại, xa lạ, một ngày như mọi ngày v. v... đều là những cụm chữ lấy từ những bài học Triết dựa trên tác phẩm của Sartre, như La Nausée (Buồn nôn), và Camus, như L'Étranger (Kẻ xa lạ), chẳng hạn, mà Trịnh Công Sơn đã lấy dịch ra và được thấy nhan nhản trong Sáng Tạo của lớp nhà văn, nhà thơ hiện sinh mới. Chả có gì mới mẻ đối với văn học sử Pháp và chúng tôi, thuộc lớp Philo tại Jean-Jacques Rousseau đầu thập niên 60.     

Tại Qui Nhơn năm nào, sau một cuộc hành quân trở về, tôi cùng với anh hạ sĩ tài xế vào một tiệm kem, chuyên chơi nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi đến quán ấy không phải để nghe Trịnh Công Sơn, mà để ngắm cô chủ tiệm có mái tóc thoảng hương bưởi, nước da trắng bóc và đôi mắt tình không chịu nổi. Lúc ấy, trong băng cassette, Khánh Ly đang hát bài "Ru mãi ngàn năm". Đến câu "bàn tay em năm ngón ru trên ngàn năm..." anh tài xế nói nhỏ với tôi: "Bàn tay em nào chả năm ngón, ông nhạc sĩ này thiệt kỳ, còn nếu bàn tay em có sáu ngón thì làm sao đây?" Anh ta không biết rằng, bàn tay năm, sáu ngón ấy Trịnh Công Sơn lấy từ một bài thơ của một ông thi sĩ trường phái Siêu thực Pháp nào đó mà thơ thuộc loại "hũ nút" như của Thanh Tâm Tuyền, hoặc Bùi Giáng.  Hay cụm từ dài tay em mấy trong câu dài tay em mấy thuở mắt xanh xao là một cấu trúc văn phạm quen thuộc trong thơ Pháp (tĩnh từ hay trạng từ đứng trước danh từ). Những mưa hồng, nắng thủy tinh v.v... là hình ảnh, ẩn dụ rất thường gặp trong văn chương Pháp.      

Bởi vì bài của tôi không có chủ đích phê bình nhạc và lời của Trịnh Công Sơn, nên xin phép tạm ngưng ở đây. Muốn viết một bài phê bình hẳn hoi, phải nêu ra nhiều dẫn chứng, ví dụ, điều mà tôi nghĩ sẽ, hay đã, có người khác làm.      
Nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc phản chiến nặng, cộng thêm những bức ảnh của Nick Út, một tên Việt gian khác, chẳng hạn, đã góp phần vào sự sụp đổ của đất nước Miền Nam thân yêu của chúng ta bằng cách tiếp tay cho Cộng sản Việt Nam trong mưu đồ xâm lược (kêu gọi phản chiến một chiều) của chúng, tác động ít nhiều trên tinh thần đấu tranh của toàn quân toàn dân ta trước thực trạng bi thảm của chiến tranh (một cuộc chiến tranh do chính lũ Cộng Phỉ gây nên), và nhất là trên cái đầu tăm tối, xuẩn ngu của những chính trị gia và ký giả quốc tế vô luân. Chúng ta mất nước, ra đi tỵ nạn, gia đình tan nát, cá nhân bị bắt bớ, tù đày, thân nhân bị hãm hiếp, hoặc vùi thây trong lòng đại dương, và xa hơn những đồng bào ruột thịt tại quê nhà đang rên siết dưới gông cùm Cộng sản, tất cả cũng bởi vì những món độc dược văn hoá nguy hiểm ấy.

Vả lại, nhạc và lời của Trịnh Công Sơn đâu đặc sắc gì lắm đâu, mà những kẻ đầu nhỏ như đầu chim sẻ phải khen ngợi, mê man, ca ngợi rối rít, ầm ĩ.
Tuy nhiên, tôi tôn trọng ý thích của mọi người, miễn là họ đừng viết những bài để thổi Trịnh Công Sơn và sự nghiệp âm nhạc của anh ta lên tận mây xanh, các chủ băng video đừng bắt đồng hương quyết tâm chống Cộng tới chiều, như tiện nhân đây, và những thế hệ con em lớn lên sau chiến tranh, chưa biết Cộng sản là gì, phải nghe những ca khúc Trịnh Công Sơn trong khi họ lợi dụng danh nghĩa chiến sĩ, thương phế binh, tử sĩ VNCH để bán hàng. Những việc làm vô ý thức đó rất mâu thuẫn, có tính cách phản bội, và đâm sau lưng chiến sĩ đấy.

Không ai cấm các người mê nhạc Trịnh, chúng ta đang ở trong một nước tự do, dân chủ mà! Chỉ xin các người làm ơn hát, nghe hát nó trong xe, trong phòng ngủ, phóng tắm, như khi các người làm việc cá nhân kín đáo. Đừng bắt thiên hạ mê theo các người, khổ lắm! Các người cũng đừng ngụy biện rằng nghệ sĩ, nghệ thuật là phi chính trị, và Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ nên không cần biết lập trường của anh ta là gì. Sai, chủ trương "nghệ thuật vị nghệ thuật" là ảo tưởng.
Có giỏi cứ đem vấn đề này ra tranh luận với Việt Cộng, là bọn chuyên bắt nghệ thuật (kể cả thơ con cóc của Bác) phục vụ cho mọi ý đồ chính trị đen tối. Tranh luận đi, chúng sẽ cười cho thối mũi.          

Còn những người tỵ nạn lưu đày chân chính? Chúng ta hãy luôn tỉnh táo, đừng thấy ai khen, mình cũng vỗ tay khen theo, nức nở. Xưa rồi.

Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, SQCH